iệu, nhìn bàn làm việc của nhân viên, kiểm tra
các tài liệu trong máy và tình hình hàng trong kho, sau đó lại nghĩ một số
chuyện. Ra sức làm việc như thế là vì cái gì? Cô thường thấy nghi hoặc trước
câu hỏi này, những gì mà cô thường nhìn thấy trên xe buýt là những người vì mệt
mỏi mà vừa đứng vừa ngủ, bụi bặm thành phố không chỉ khiến người ta mệt mỏi mà
còn khiến người ta không có thời gian để hồi tưởng lại quá khứ. Giá cả của rau
xanh không vì sự khác biệt của công việc mà khác nhau, cảm giác hạnh phúc của
con người cũng không vì môi trường mà thay đổi, tiếng hát cũng không vì người
hát nổi tiếng hay không mà lay động lòng người. Cô phát hiện ra một lỗ trống
trong trái tim mình, mặc dù xung quanh rất tốt, nhưng cô vẫn không thể vui vẻ
thực sự.
Cô nhìn thấy trên bàn làm việc của mình có một bức
thư, trong đó là một bức tranh, đương nhiên là của Phương Thành.
Bức tranh vẽ một dòng nước, bên cạnh dòng nước có một
cô gái rất giống Tiểu Liên, vầng trán đó, khóe mắt đó, và cả cái cằm với mái
tóc nữa.
Một dòng chữ khơi lại cảm xúc trong cô: “Người mình
yêu trong lòng nói cô đơn nhưng lại không cô đơn, nó chứa đựng một bóng hình,
cùng sống với bóng hình đó. Anh đi trên con đường của anh, trên con đường đó
không có tiếng cười tiếng nói, cũng không có nụ cười của em, nhưng anh vẫn nâng
niu bóng hình em trong tay, bởi vì anh muốn gặp ai cũng nói anh yêu em”.
Nỗi cảm động mà anh mang lại cho cô không thể dùng
tiền bạc để đong đếm được, không có những bữa tối lãng mạn bên ánh nến, không
có những chiếc xe bạc tỉ đưa đón, chỉ có tâm hồn nhạy cảm và nhiều trắc trở của
anh. Mọi lời nói, hành động của anh đều khiến cô thực sự động lòng, khiến cô
dường như quay lại với tuổi hai mươi đầy e thẹn nhưng tràn đầy sức sống. Ánh trăng
trải đều lên tóc cô, dường như phát ra ánh sáng của ngày cũ. Năm xưa, cô với
Phương Thành ôm nhau, hôn nhau trong ngõ nhỏ, dường như không thể xa rời, anh
không nói yêu cô, không tặng quà cho cô, nhưng chỉ cần nhìn thấy cô là ôm chặt
cô không buông. Bởi vậy cô không tìm kiếm lời giải thích, chấp nhận sự thân mật
của anh. Con ngõ nhỏ yên tĩnh là tượng trưng cho tình yêu của hai người. Ở cùng
với anh, cô không quan tâm mình ăn gì, không quan tâm mình đang ở chỗ nào, chỉ
cần cảm giác được ở bên anh là chân thực, cho dù sau đó khi chia tay, trong tim
cô ngập tràn nỗi hoang mang. Anh đẹp trai nhưng không đa tình, là loại người
không cho phép tình cảm của mình bị vấy bẩn. Trong những năm tháng thanh xuân
nông nổi, chỉ vì muốn gặp anh một giây ngắn ngủi, chỉ muốn nghe anh nói đơn
giản một câu “nhớ em”, chỉ vì muốn được thân mật với anh, chỉ muốn cảm thấy
vòng tay ấm áp của anh, cô có thể đi tìm anh bất kể trời mưa bão, giá buốt,
những đêm hè nóng nực hay vào sáng mùa đông lạnh lẽo, sau đó cô lại về nhà một
mình và hồi tưởng lại những phút say đắm vừa qua. Cô cố gắng hết sức để đối xử
tốt với anh, tin rằng rồi sẽ có một ngày anh thành công, chỉ sợ ngày đó tới,
anh thành người nổi tiếng, còn cô thì tuổi xuân đã qua, tình cảm đã nhạt nhòa.
Mỗi lần chia tay sau khi gặp anh là cảm giác mà cô không muốn nhớ tới nhất, anh
thường an ủi cô: “Có phải không muốn đi không”, cô gật đầu. Sau đó nghịch ngợm
nói:
- Được rồi, một trăm năm sau gặp lại, một thế kỷ sau
gặp lại.
Giờ đây, sau khi thế kỷ mới đã tới, khi cô cho rằng họ
không thể nào gặp nhau được nữa, họ đã thực sự trùng phùng. Cô thậm chí còn
không có bất kỳ tiếp xúc thân mật nào với anh, nhưng phát hiện ra cô lại bắt
đầu xây một ngọn tháp tình cảm với anh. Cô vẫn luôn thấy khó chịu khi ngày càng
nhiều người trẻ tuổi coi thường sức khỏe của mình, đối với họ mà nói, tình dục
quá nhiều có thể tước đoạt mất sức khỏe của tuổi xuân, giống như những cửa hàng
bán cùng một loại sản phẩm khắp nơi trên phố, mọi người không cần vì mua sản
phẩm loại này mà phải đến tiệm bách hóa ở xa, chỉ cần ra ngoài đường là mua
được, nhẹ nhàng mà thoải mái, nhưng làm sao biết được rằng những sản phẩm này
chỉ dùng vài ngày là chán, vứt ở nhà và không bao giờ đụng tới nữa.
Những bài giảng của Phương Thành ở Đại học Nghệ thuật
thiết kế Minerva của Hà Lan rất thành công, những bức tranh mang đậm dấu ấn
phương Đông của anh gây nên một tiếng vang lớn trong giới ưa thích nghệ thuật
cổ điển, anh lại tinh thông lịch sử nghệ thuật phương Tây, bởi vậy việc giao
lưu với người phương Tây không gặp chút khó khăn. Năm 1956, Picasso nói với
Trương Đại Thiên, thế giới này nếu nói về nghệ thuật, thứ nhất người Trung Quốc
có nghệ thuật, thứ hai người Nhật Bản có nghệ thuật, đương nhiên nghệ thuật của
Nhật Bản bắt nguồn từ Trung Quốc, thứ ba là người châu Phi da đen có nghệ
thuật, người da trắng chẳng có nghệ thuật gì để nói. Chỉ cần nghĩ tới những lời
Picasso là Phương Thành đã có tự tin. Anh nói với người châu Âu, tranh phương
Đông rất giàu tư tưởng, cho dù là tranh theo loại hình hay phong cách gì đều là
tả thực về tinh thần.
Ở Paris, Pháp tổ chức một triển lãm mỹ thuật mùa hè,
anh tới quê của Monet ở ngoại thành Paris để tìm cảm hứng,