hắp thiên hạ, nhất định đã phải bỏ ra rất nhiều
công sức mà người bình thường chẳng thể tưởng tượng nổi.
Nghĩ đến đây, Hà Y vác cái xẻng sắt lên vai rồi hỏi: “Ngôi mộ
ngài nói là ở chỗ nào?”
Chàng đưa tay lăn bánh xe vượt qua nàng đi ra khỏi cửa, cất
giọng lãnh đạm nhẹ nhàng nói: “Đi theo tôi”.
Hành lang không một tiếng người, màn đêm yên ắng đến đáng sợ.
Dọc hành lang, cứ cách mấy bước lại treo một chiếc đèn lồng
màu xanh nhạt, bóng nến chập chờn đem mấy cảnh cây vông trong viện in vào mảng
tường trắng đầu hồi, gió thấp thoáng, bóng cây đung đưa, bóng người in trên tường
tựa như đang nhảy múa theo.
Hai người không ai lên tiếng, cứ men theo hành lang dài nhắm
hướng tây đi một mạch nửa thời thần[6'>, dọc đường Mộ Dung Vô Phong vẫn tự mình
đẩy bánh xe đi ở phía trước.
[6'> Thời thần: đơn vị tính giờ thời cổ, một thời thần tương
đương với hai tiếng ngày nay.
Hà Y thấy chàng đã thấm mệt nhưng cũng không đến giúp.
Chàng là một người cao ngạo, loại người này thường không
thích người khác giúp đỡ.
Cuối đường đột nhiên xuất hiện một sườn núi, hành lang tuy
men theo sườn núi nhưng không còn là đường bằng phẳng mà là từng bậc thang. Mộ
Dung Vô Phong lấy từ sau xe lăn một đôi nạng bằng gỗ hồng rồi kẹp dưới nách.
Đôi chân của chàng tuy không thể cử động nhưng lực ở tay và vai thì khá khỏe.
Hai tay chàng nhấn một cái, mượn lực vươn người đứng lên dựa vào hai nạng.
Có vẻ như đã rất lâu chàng không đứng lên, lúc này cố sức đứng
dậy, đôi môi có phần trắng bệch.
Hà Y đứng bên cạnh nói: “Chẳng lẽ chúng ta phải đi vòng hết
sườn núi này?”.
Mộ Dung Vô Phong gật đầu: “Đối diện chính là mộ phần”.
Hà Y không kìm được bật lời: “Ngài muốn nói ngài muốn tự
mình đi qua đấy?”.
“Lẽ
nào tôi không thể đi qua?”, chàng lạnh lùng đáp lại một câu.
Mộ Dung Vô Phong nói vậy, Hà Y lập tức im lặng.
Dáng vẻ lên từng bậc thang của chàng trông thật khó khăn. Bất
cứ ai nhìn vào cũng đều cảm thấy xót xa. Chân của chàng chẳng còn chút sức lực
nào, khi đứng lên, hoàn toàn phải dựa vào đôi vai chịu hết toàn bộ trọng lượng
cơ thể. Chỉ lên một bậc thang mà mồ hôi đã tuôn ướt đẫm, không thể không ngừng
lại một chút mà thở dốc.
Hà Y nhìn chàng nói: “Có cần tôi đến giúp không?”.
Chàng lắc đầu.
Hà Y nói: “Ngài cứ nói cho tôi biết đó là ngôi mộ nào, tôi
đi đến đó trước đào lên”. Cứ trông tốc độ của Mộ Dung Vô Phong, kể cả nàng đem
ngôi mộ ấy đào lên rồi lại lấp xuống ổn thỏa có khi chàng vẫn còn ở sườn núi
bên này.
Chàng nghĩ ngợi một chốc rồi nói: “Bia mộ ấy có ba chữ ‘Mộ
Dung Tuệ’”.
Hà Y đứng ngẩn ra, cứ nhìn chàng với dáng vẻ kỳ quái, thoáng
chốc mặt đã đỏ bừng, ấp a ấp úng nói: “Tôi… tôi không biết chữ.”
Hà Y nói xong rụt vai, cúi đầu, len lén nhìn chàng.
Trên mặt Mộ Dung Vô Phong chẳng tỏ thái độ gì, nói: “Ngôi mộ
đầu tiên bên phải, dãy thứ hai”.
“Tôi
đi đây!”, nàng nhẹ nhàng tung người, trên không trung lộn mình, một lần tung
mình đã ba trượng, thoáng chốc khuất khỏi tầm mắt của Mộ Dung Vô Phong.
Sương đêm phủ khắp, khu mộ kéo dài xa tắp. Bên trong mộ phần
và bia mộ nhiều vô kể. Lửa ma trơi thấp thoáng, vô thanh vô tức, thoắt ẩn thoắt
hiện càng tô thêm vẻ yên ắng đến đáng sợ của không gian.
Khu mộ này hiển nhiên đã được dựng lên từ nhiều năm trước, lớp
đá xanh lát nền sớm đã có vết rạn, mấy loài cỏ dại vươn ra từ những kẽ nứt ấy.
Hà Y tìm thấy ngôi mộ đó, thầm ước lượng độ lớn nhỏ của quan tài rồi vạch ra
phương vị đại khái trên mặt đất.
Nàng từng áp tải quan tài cho người ta, xem qua người khác
đào mộ, dùng xẻng sắt đào chừng nửa canh giờ đã đào được đến quan tài. Khi nàng
trở lại sườn núi, phát hiện ra Mộ Dung Vô Phong vẫn đứng ở bậc thang đá thứ tư,
một tay vịn lan can, gắng sức di động thân thể. Sườn núi không hề cao, cũng chỉ
tầm hai chục bậc, nhưng cứ trông tốc độ của Mộ Dung Vô Phong mà tính, đợi đến
lúc qua được sườn núi trời cũng đã rạng rồi.
Nàng đem chiếc xe lăn qua bên kia sườn núi, đặt dưới chân dốc.
Hà Y nhìn Mộ Dung Vô Phong nói: “Ngài có cần tôi giúp
không?”
Mộ Dung Vô Phong lắc đầu.
Một lúc sau, một dải lụa trắng đột nhiên rủ xuống trước mặt
chàng. Tiếng của Hà Y trên cây vọng xuống: “Này, bám lấy dải lụa này, tôi kéo
ngài lên”.
Mộ Dung Vô Phong ngẩng đầu lên, tựa như muốn nhìn cho rõ nơi
nàng đang ở, dải lụa trắng kia như một con rắn linh hoạt trườn qua, cuốn chặt lấy
eo lưng chàng. Sau đó dải lụa nhẹ nhàng kéo lên, đưa chàng bay vụt lên. Khi lên
đến lưng chừng, Hà Y bỗng tung người nhảy qua, đem thân thể đang lơ lửng trên
không của Mộ Dung Vô Phong cùng băng qua đỉnh dốc của sườn núi, hướng xuống
chân núi. Khi thấy sắp chạm đất, nàng vươn tay đưa ra, đem Mộ Dung Vô Phong đặt
vững vàng trên chiếc xe lăn.
Dải lụa trắng kia gọi là “Tố thủy băng tiêu”, được dệt từ tơ
của băng tằm vùng Nam Hải. Hà Y luyện được công phu dùng dải lụa, đối với môn
này rất lấy làm tự hào.
Chính vào lúc nàng đang dương dương tự đắc, Mộ Dung Vô Phong
ngồi bên cạnh bỗng khom người, tay ôm lấy ngực, đầu ngón tay bỗng dưng tím tái,
toàn thân co quắp lại, hơi thở nghẽn tại ngực, hô hấ