ứ mười bốn đấy. Cha nói,
trong cốc có khách quý Triệu Tổng quản mới phải mời người đích thân xuống bếp.
Cho nên người bảo cháu phải hầu hạ cô nương cho tốt.”
Hà Y nghe xong khẽ cười rồi nói: “Có thể phiền cháu giúp ta
chuyển lời tới Triệu Tổng quản, hỏi ông ấy xem giờ ta có thể đến gặp ông ấy được
không?”.
Cô bé gật đầu, nhanh chân chạy đi, qua một hồi rồi trở lại
thưa: “Triệu Tổng quản nói, nếu cô nương cảm thấy thuận tiện, hiện ông ấy đang ở
phòng số Ba nhà chữ Huyền[2'> đợi cô nương”.
[2'> Những ngôi nhà hoặc gia trang lớn của Trung Quốc thường
có nhiều cách đặt tên từng dãy nhà để tiện phân biệt. Ở đây nhắc tới nhà chữ
Huyền. Huyền là màu đen, tượng trưng cho Thủy trong ngũ hành, vị ở phương bắc.
Nhà chữ Huyền tức dãy nhà phía bắc.
Có vẻ như phòng số Ba là nơi chuyên dùng để tiếp khách.
Lần đầu tiên Hà Y gặp mặt Tổng quản Vân Mộng cốc Triệu Khiêm
Hòa. Trông người này tuổi chừng năm mươi, cũng mang vẻ nho sĩ như Quách Tất
Viên, có điều dáng người cao hơn khá nhiều. Thái độ của Triệu Khiêm Hòa tựa hồ
rất nghiêm nghị, không có vẻ thân thiện của Quách Tất Viên, trên mặt tuyệt
nhiên không biểu hiện gì, nói năng cũng rất khách khí: “Sở cô nương, xin mời ngồi,
mời dùng trà. Đây là trà từ Nha sơn mới đem tới, tôi cho rằng trà này so với Ô
Chủy Hương của đất Thục thì uống hay hơn”.
Sở Hà Y cười đáp: “Đa tạ”.
Ngô Tăng mạn thuyết Nha sơn hảo,
Thục tấu hưu khoa Ô Chủy hương[3'>
(Sư Ngô thì nói Nha Sơn tuyệt,
Giả Thục lại khen Ô Chủy thơm.”
[3'> Trích bài Hiệp trung thường trà của Trịnh Cốc thời Đường,
nguyên văn hai câu trên: 吴僧漫说鸦山好,蜀叟休夸鸟嘴香。
Trên thị trường, hai loại trà này đều cực kỳ nổi tiếng và đắt
đỏ, vài lượng bạc mới mua được một lạng. Trước nay nàng chưa từng nếm qua,
không phân biệt được giữa chúng có điểm gì khác nhau. Thứ trà mà Hà Y hay uống
nhất không gì ngoài hồng trà phổ thông ngoài quán cơm.
Triệu Khiêm Hòa nói: “Lần này cô nương đến chắc là vì việc
kia, vậy chúng ta cũng không hàn huyên thêm nữa. Xin nói thật, vừa rồi đã có mười
mấy vị cao thủ lần luợt đến rồi. Tất cả đều là do tôi và mấy vị tổng quản khác
tốn vài tháng trời mới tìm được. Chỉ là không vừa lòng cốc chủ”.
Sở Hà Y nói: “Xem ra việc lần này nhất định rất khó khăn, nếu
không quý cốc chủ đã không kỹ càng đến thế”.
Triệu Khiêm Hòa cười khổ: “Tâm tình cốc chủ chẳng ai đoán nổi,
chúng tôi là phận thuộc hạ, chỉ có thể tuân lệnh mà làm việc thôi. Chẳng qua
ngài nói không thích hợp, đương nhiên cũng có cái lý của ngài”.
Sở Hà Y không nhịn được bật hỏi: “Là vì lý do gì vậy?”.
Triệu Khiêm Hòa lắc đầu: “Chúng tôi cũng không biết. Ngài chỉ
nói một câu không hợp. Hại chúng tôi phải vòng vo giải thích với các vị kia”.
Sở Hà Y cười nói: “Nếu như cốc chủ nói tôi không hợp, Triệu
Tổng quản cũng không cần tốn công giải thích gì đâu, tôi trực tiếp rời đi là được”.
Nghe nàng nói vậy, trên mặt Triệu Khiêm Hòa hiện ra nét cười,
nói: “Cô nương có thể hiểu cho như thế thì tốt quá rồi. Tôi chỉ không muốn khiến
người khác thất vọng. Nói thẳng ra, việc lần này rốt cuộc là gì, đến tôi cũng
không biết. Chỉ biết cốc chủ muốn tìm một người thay ngài điều tra một việc. Tiền
công, trước trả sáu nghìn lượng, xong việc lại thêm gấp năm lần. Tổng cộng cũng
tới ba vạn sáu ngàn lượng bạc”.
Nàng từ tốn đáp: “Tin này đã truyền khắp giang hồ, tôi nghĩ
sau này những người tới tìm tổng quản sẽ liên miên không hết, quý cốc chủ chắc
chắn không lo tìm không ra người thích hợp”.
Triệu Khiêm Hòa hắng giọng, không tán thành mà cũng không phản
đối đáp: “Chúng tôi chỉ tìm những người chúng tôi cảm thấy có thể tin tưởng được,
những người như thế trên giang hồ tuyệt không nhiều”.
“Vậy
sao chúng ta không đi luôn bây giờ?”
“Nếu
cô nương vẫn còn tinh thần, vậy xin mời theo tôi vào cốc. Vừa hay chiều nay cốc
chủ có thời gian.”
Xe ngựa đi trong sơn đạo tựa hồ rất lâu. Sau khi tiến vào một
cánh cửa lớn, lại phải đi thêm gần nửa giờ mới dừng lại. Đánh xe là một người
trẻ tuổi nhanh nhẹn, chóp mũi đỏ hồng, trong ấn tượng của Hà Y những người như
thế thường nói rất nhiều mới đúng, nhưng người này suốt dọc đường không nói một
lời. Chỉ mỗi lúc dừng xe mới hô “hu[4'>” một tiếng. Triệu Khiêm Hòa xuống xe trước,
mở cửa giúp nàng, sau đó nàng nhẹ nhàng bước xuống. Nhìn kỹ một lượt, nơi đây
là cổng của một trang viện, chỉ thấy cửa đang đóng chặt, bên trên hoành phi viết
ba chữ mà nàng còn may vẫn nhận ra được, “Trúc Ngô Viện”.
[4'> Khẩu lệnh để ngựa dừng lại.
Đẩy cửa tiến vào, trong viện hương hoa sen thơm nức, bóng
trúc um tùm, chim hót thánh thót, gió nhẹ hiu hiu. Hành lang ngang ngang dọc dọc
nối liền với tòa thủy tạ bên cạnh hồ lớn phía xa xa. Đưa mắt trông xa, sóng biếc
trùng trùng, tựa như có thông ra sông lớn, ven bờ liễu rủ phơ phất, hoa cỏ khắp
nơi. Thế núi hai bên hồ lớn uốn lượn ẩn hiện, ở đó lại như có vô số thác suối,
hang động và mỏm đá hình thù kỳ lạ. Cảnh sắc tuy đẹp nhưng tĩnh mịch không một
bóng người. Hành lang lát đá Đại Lý còn khảm thêm đồng, sáng tới mức có thể soi
gương, sạch sẽ không chút bụi. Tay vịn và hà