ểu cô nương muốn nghe chuyện gì?”.
Hà Y nói: “Tôi vốn tới khám bệnh, đương nhiên quan tâm đến
chính chuyện của thần y Mộ Dung. Nghe nói ngài ấy tính khí cổ quái, rất khó
giao tiếp. Cũng không tùy ý nhận bệnh nhân, đại ca nói xem, nếu tôi trực tiếp đến
tìm ngài ấy xin khám chữa, có chút hy vọng nào không?”.
Tôn Phúc cười nói: “Có chỗ cô nương không biết. Thần y có ba
thói quen, ở đây không ai không biết, không ai là không hiểu”.
“Hử?”
Tôn Phúc nói: “Thứ nhất, ở đây khám bệnh đều có trình tự, ai
cũng phải theo quy củ. Đại đa số bệnh nhân chỉ cần vào những y quán trong trấn
chỗ chúng tôi đây là có thể trị khỏi. Chỉ có những trường hợp nguy hiểm nhất,
khó chữa nhất mới được đưa vào trong cốc. Nếu như bệnh tình của cô nương không
nguy tới tính mạng, vậy hi vọng gặp được cốc chủ không lớn. Mỗi một bệnh nhân đều
phải theo trình tự, mặc kệ anh có tiền có thế, cũng không thể phá lệ. Cho nên
điều thứ nhất chính là, về phương diện quy củ, nói một là một”.
Hà Y nói: “Cốc này lớn như vậy, không có quy củ đương nhiên
không được”.
Tôn Phúc cười: “Nhưng cái kiểu giữ quy tắc của vị lão gia
này chỗ chúng tôi, chỉ sợ cô nương cũng chưa từng gặp qua. Tỉ dụ như năm đó Mộ
Dung tiên sinh mới tuổi thiếu niên nhưng đã thành danh, không biết như thế nào
mà danh tiếng của ngài vang tới tận ngoại vực, có một người Hồi ở nước Đại Thực[1'>,
tên gọi là Ô Lý Nha lập chí muốn bái tiên sinh làm thầy muốn học thành một danh
y nức tiếng. Người này bỏ ra hai năm, không quản đường sá xa xôi vạn dặm lăn lội
tới đây, trên đường chịu bao nhiêu khổ cực, so với năm xưa Huyền Trang pháp sư
đi lấy kinh cũng chẳng kém bao xa. Lúc đến được đây, cả người gầy rộc như một sợi
mì, may mà được đệ tử thứ hai của tiên sinh là Trần đại phu thu nhận, điều dưỡng
hơn một tháng trời mới có sức đến gặp Mộ Dung tiên sinh. Nói ra, cái vị Ô Lý
Nha này một lòng thành, khiến cả trấn từ trên xuống dưới ai cũng cảm động tới
rơi lệ. Mọi ngươi đều nghĩ, người có nghị lực có quyết tâm như thế, làm sao Mộ
Dung tiên sinh có thể bỏ qua đây? Kết quả lại khiến cho ai nầy đều kinh ngạc
không thôi. Vị lão gia kia của chúng tôi nói, anh đã đến đây học y thuật, thì
phải qua được đề thi ngài ấy ra. Bởi vì mỗi một học trò của tiên sinh đều phải
thông qua khảo thí mới được vào cốc. Ai cũng không thể ngoại lệ”.
[1'> Cách gọi của người thời Đường, Tống với đế quốc Arab thời
bấy giờ
Hà Y hỏi: “Đại ca nói, cái vị Ô Lý…gì gì đó là người ngoại
quốc, liệu anh ta có thể nói mấy câu tiếng Trung đây?”.
Tôn Phúc nói: “Tuy anh ta là người ngoại quốc, nhưng phụ
thân từng tới trung nguyên buôn bán làm ăn, cho nên anh ta có thể nói được tiếng
Hán, nói cũng rất khá. Với lại anh ta từ nhỏ đã thích Trung y, rất nhiều sách
y, cái gì mà Thái y cục như liệu trình văn cách, Tập hãi bối thư phương, Nhân
trai trực chỉ, Chứng loại bản thảo đều có thể đọc thuộc lòng như nước chảy,
nghe nói lúc chuyện phiếm với Trần đại phu, anh ta thuận miệng trích ra hai chú
thích nhỏ trong Vân Mộng cứu kinh và Thương hàn luận án của Mộ Dung tiên sinh
không sai lấy một chữ, làm Trần đại phu giật mình kinh ngạc! Không ngờ tới một
người ngoại quốc lại có thể có tài này. Nhưng mà khi Ô Lý Nha Đa này cầm đề thi
trong tay thì vẫn là trợn mắt ngẩn ra, nói là chỉ có thể làm non nửa, phần còn
lại không biết là nói về cái gì. Cho nên khảo hạch không qua được”.
Hà Y nói: “Đại ca nói xem, liệu có phải là Mộ Dung tiên sinh
muốn dập tắt khí thế của anh ta, cố ý ra đề khó chăng?”.
Tôn Phúc nghĩ một lúc, nói: “Chắc không phải. Một là, Trần đại
phu lúc giới thiệu cũng không nói với tiên sinh vị Ô Lý tiên sinh này quen đọc
sách y, cho nên cũng chẳng có chuyện đàn áp khí thế gì. Hai là, mỗi năm số người
đến xin bái sư nhiều như cỏ, ai cũng phải làm bài thi này, thông thường một hai
năm có tới mười mấy kỳ khảo thí, nhưng những người thi đỗ cực ít. Cho nên đề
thi có khó cũng là chuyện tưởng tượng đươc. Nói ra thì vị Ô Lý tiên sinh này
cũng rất có khí phách, quyết tâm thi đỗ bằng được, thế là một mình thuê một căn
nhà nhỏ ở đầu đông của trấn, trừ một ngày ba bữa ăn còn đâu thì đều đóng cửa đọc
sách, hoặc cũng chỉ qua lại với Trần đại phu, Giải đại phu, Ngô đại phu, mấy vị
học trò của Mộ Dung tiên sinh mà thôi. Anh ta là người hào phóng, nói chuyện
hài hước, rất thân quen với mọi ngươi trong trấn này, mọi người tìm cho anh ta
một chân tiểu nhị ở quán rượu, bình thường vẫn gọi anh ta là ‘lão Ô’. Anh ta cứ
thế vùi đầu vào học tập chừng một năm, tự tin hơn trước gấp trăm lần mà đi thi.
Ai cũng cho rằng lần này nhất định thành công, đến pháo chúc mừng cũng mua sẵn
rồi, ai ngờ nghe ngóng một hồi, hóa ra lại không đỗ. Lần này lão Ô bực rồi,
ngay đêm ấy tuyên bố sẽ mọc rễ ở trấn này, đổi tên thành ‘Mộ Dung Ô Lý’, tự là
‘Nha Da’, hiệu là ‘Khố Độc Tử’[2'>. Một tháng sau, lại cưới một cô nương trấn
này, rồi tiếp tục sớm tối học tập. Lại qua hơn nửa năm nữa, sinh được một đứa
con gọi là ‘Mộ Dung Huyên’, chính là dùng điển cố ‘Huyên Hồ Tế Thế’[3'>. Rồi lại
thi lại, lại trượt! Cô nương nói có kỳ quá
