c tất sẽ lưu truyền y sử”.
Diệp Sĩ Viễn hỏi: “Lão đệ sống ở trung nguyên, có từng bái vọng
Mộ Dung tiên sinh ở Vân Mộng cốc chăng?”.
Mộ Dung Vô Phong đang uống trà, nghe thấy câu này thiếu chút
nữa thì sặc, vội vàng nói: “Chưa từng. Vãn sinh đi lại không được thuận tiện, rất
ít ra ngoài. Chuyến này… chuyến này đi xa là vì nhận lời mời của bằng hữu”.
Diệp Sĩ Viễn than rằng: “Lão phu rất muốn gặp người này một
lần, hỏi xem thiên kế tiếp sách Vân Mộng nghiệm án loại thuyết của anh ta bao
giờ mới ra. Chỉ đáng tiếc vài ngày trước lão phu nghe được một tin, nói rằng mấy
tháng trước vị này đã đột ngột qua đời rồi. Vân Mộng cốc vì việc này đã cử hành
lang lễ cực kỳ long trọng, bạn hữu trong giới Hạnh lâm[4'> nghe tin cũng lũ lượt
tới phúng viếng. Thật là trời ghét người tài, đáng tiếc, đáng tiếc”.
[4'> Từ phiếm chỉ cho giới Y học Trung Quốc ngày xưa. Điển xuất
phát từ thời Tam Quốc, nước Ngô cỏ một vị y sinh tên là Đổng Phụng. Vị này chữa
bệnh cứu người nhưng không nhận tiền cảm ơn. Nếu người bệnh nặng được ông ta chữa
khỏi thì sẽ trồng năm cây hạnh, nếu người bệnh không nặng được chữa khỏi, sẽ trồng
một cây hạnh. Cứ như thế sau mười năm nơi đó đã có tới mười mấy vạn cây hạnh. Đổng
Phụng nhìn rừng hạnh cảm thấy rất vui liền làm một ngôi nhà cỏ ở nơi ấy. Đến
khi quả hạnh chín, ông nói với mọi người, ai muốn mua hạnh thì không cần nói với
ông, chỉ cần đem một thúng gạo đổ vào kho gạo của ông là có thể lấy một thúng hạnh
về. Đổng Phụng đem hạnh đổi lấy gạo rồi lại đem gạo đi cứu tế cho nông dân
nghèo khổ. Về sau người ta nói tới “Hạnh lâm” là để ca tụng người làm nghề y. Y
đường của Diệp Sĩ Viễn trong truyện cũng nhân đó mà lấy lên Truyền Hạnh đường,
ý muốn nói tới việc noi theo y đức của Đổng Phụng mà hành nghề y.
Mộ Dung Vô Phong chỉ đành nói theo: “Đáng tiếc, thật đáng tiếc”.
Thầm nghĩ Hà Y khuấy đảo Đường môn đất Thục một trận rồi ôm
mình nhảy từ vách đá xuống, chỉ sợ đã có người nhìn thấy. Người ở Vân Mộng cốc
cho rằng hai người đã cùng nhau qua đời cũng chẳng phải việc gì kỳ lạ.
Diệp Sĩ Viễn nói: “Lão phu cũng đã phái một tên đồ đệ kém cỏi
đi trước rồi, đến được đó đại khái cũng phải mất bốn tháng. Nhân tiện cũng tìm
hiểu luôn trong Vân Mộng cốc liệu có còn sách mới nào mà người ấy chưa viết
xong không”.
Mộ Dung Vô Phong nói: “A… việc này chỉ sợ là không có rồi.
Có điều nơi ấy vẫn còn hai vị Sái đại phu và Trần đại phu, cũng rất hay viết
sách”.
“Đương nhiên, đương nhiên, lão đệ nói tới Sái Tuyên và Trần
Sách hả? Trước đây lão phu từng gặp qua tiểu Sái một lần rồi. Tên tiểu tử đó mắt
để trên trán, quá mức cao ngạo, phụ thân hắn nói chuyện với lão phu hãy còn vài
phần khách khí, hắn nói chuyện thì nửa điểm khách khí cũng chẳng có. Làm ta tức
muốn chết. Người trẻ tuổi cậy tài phóng đãng, chẳng có chút khuôn phép nào cả.
A, nói thế thôi chứ tên tiểu tử ấy cũng đúng là thông minh thật. Cuốn Trừng
minh y giải của hắn và Úy phong tam cấp của Trần Sách vẽ mặt ngoại khoa và tạp
bệnh cũng xem như rất có kiến giải rồi. Đương nhiên so với mấy cuốn sách kia của
Mộ Dung Vô Phong – nghe nói người này còn rất trẻ, cũng tương đương với lão đệ
– thì vẫn còn thua xa lắm. Ta thấy hắn cũng chưa tìm được học trò nào thông
minh hơn mình, khà khà.”
Mộ Dung Vô Phong cũng cười nhạt, cúi đầu không nói năng gì.
Diệp Sĩ Viễn lại nói: “Nghe nói nơi ấy còn có một vị Ngô đại
phu rất nổi tiếng về nhi khoa và phụ khoa”.
Mộ Dung Vô Phong đáp: “Vâng, là Ngô Du. Cô ấy cững có viết một
cuôn sách”.
“Đọc qua rồi, đọc qua rồi, là Ấu khoa tạp luận. Nghe nói Ngô
đại phu cực kỳ xinh đẹp, cả đời sùng bái nhất là sư phụ Mộ Dung tiên sinh của
mình. Trong lời tựa của cuốn sách ấy, có quá nửa là để dành khen sư phụ của
mình, lúc lão phu mới đọc sách ấy còn cho rằng sách này là do Mộ Dung tiên sinh
giúp cô ấy viết ra. Ai ai cũng nói sớm muộn gì cô ấy cũng gả cho Mộ Dung tiên
sinh, nhưng không biết trước khi Mộ Dung tiên sinh qua đời cô ấy rốt cuộc đã gả
cho người hay chưa?”
Mộ Dung Vô Phong thầm lấy làm may mắn vì Hà Y không ở bên cạnh
lúc này, nếu không nàng nghe thấy mà để yên cho chàng mới là lạ.
Ban đầu vị Diệp Sĩ Viễn này là danh sĩ vùng Tây Bắc, từ nhỏ
đã có tài văn chương, tự thị rất cao, tuy vốn xuất thân từ danh y thế gia nhưng
lại yêu thích nghiệp học hành, nhất quyết không chịu lấy nghề y làm nghiệp
chính. Không ngờ, khoa cử hắc ám, mấy lần thi chẳng được, lúc ấy mới trong cơn
phẫn nộ mà vứt bỏ nghiệp khoa cử, chuyên tâm làm một vị đại phu. Lúc đến nơi
này, xa gần trong ngoài, tới một người có thể cùng ông ta bình luận về y thuật
cũng không có. Bây giờ gặp được Mộ Dung Vô Phong, thấy chàng là người trong nghề,
trình độ cũng chẳng thấp hơn mình thì lập tức cảm thấy như có được tri kỷ,
không nén được mà mừng ra mặt, liền đem chuyện trong nghề, những hay dở của
sách y, những giai thoại của ngành y bao nhiêu năm nay tích trong lòng không có
người để nói mà đàm đạo thảo luận hết với chàng. Cứ liên miên bất tuyệt mãi,
nói tới hơn một canh giờ vẫn không sao khép nổi miệng lại. Nếu không ph
