thế này, hy vọng bọn họ vĩnh viễn
hạnh phúc cùng nhau.
Nếu hai người đều cùng vui vẻ, sao lại không thể ở cùng một
chỗ? Sao còn phải nghĩ nhiều như thế?
“Người đọc sách cứ thường bị cảm giác cao thượng chi phối,
thân mình có chút lý lẽ thì cứ muốn làm thánh nhân. Những người thô lỗ không chịu
đọc sách như bọn thiếp cuối cùng lại phải chịu bị bọn chàng hành hạ”, từng có
lúc Hà Y đã nói như thế.
Chàng cười khổ, không thể không thừa nhận, lời nàng có lúc
cũng thật chuẩn.
Chàng sai rồi! Đơn giản là sai đến mức hồ đồ!
Nghĩ tới đây, chàng vươn người dậy, ra ngoài cửa, đem theo
xe lăn, cưỡi lạc đà, men theo cửa hiệu, quán rượu khách điếm dọc phố hỏi từng
nhà từng nhà một.
“Xin hỏi vị đại ca này, ngày hôm qua có từng nhìn thấy một
cô gái nhỏ nhắn mặc đồ màu tím nhạt không? Trên lưng cô ấy khoác một bọc hành
lý màu đỏ, eo giắt một thanh kiếm màu tía?”
“Cô gái nhỏ người à? Không có.”
Chàng lại lăn bánh xe, dưới ánh mắt chăm chăm của đám đông rời
đi, tới bên chân lạc đà vỗ nhè nhẹ. Lạc đà quỳ xuống, một tay chàng vịn xe lăn,
tay kia níu lấy bướu lạc đà, gồng sức vươn người lên yên, sau đó treo xe lăn
lên một cái móc móc vào yên, xong việc lại vỗ lưng lạc đà, con lạc đà từ từ đứng
dậy rồi tiếp tục thong thả đi về phía trước.
Tới một nhà khác, chàng lại lặp lại quy trình phức tạp gian
nan ấy một lượt nữa, đi vào từng cửa hàng cửa tiệm, hỏi cùng một câu hỏi, đợi
người ta lắc đầu trả lời “không thấy”, rồi lại vòng ra leo lên lưng lạc đà, tiếp
tục tiến lên phía trước.
Chàng tự biết bộ dạng mình thật không bình thường, rất nhiều
người trên đường chú ý tới chàng, có những người khoanh tay đứng hẳn sang một
bên, không e dè gì, theo dõi chàng từ đầu tới cuối.
Đây là giang hồ, không phải Vân Mộng cốc, chàng chỉ có thể cố
chịu đựng những ánh mắt hiếu kỳ ấy.
Trông thấy bên đường có mấy tiệm nhỏ bán Khách Ngõa Phù,
chàng cũng ngồi trên lạc đà cúi người xuống hỏi thăm.
Hà Y tới nơi đây, thứ thích ăn nhất chính là thịt dê xiên nướng.
Với lại trước giờ nếu tâm tình nàng càng không tốt, ăn sẽ càng nhiều.
Nhưng ông lão bán Khách Ngõa Phù lại cứ một mực lắc đầu:
“Lão đây nướng thịt dê ở chỗ này đã mấy mười mấy năm, chưa từng gặp vị cô nương
nào như thế”.
“Nói bừa, nói bừa rồi, lão đầu ông nướng thịt, khói cứ gọi
là bay mù mịt, cho dù có một con gấu to đùng bò tới trước mặt, ông cũng chẳng
thấy được nữa là!”, người ở quầy hàng bên cạnh nói: “Công tử, người chớ tin lời
ông ta. Tôi đã nhìn thấy cô gái công tử vừa nói. Cô ấy còn tới chỗ tôi mua bốn
xiên Khách Ngõa Phù nữa cơ”.
Chàng vội hỏi: “Thật sao? Là lúc nào thế?”.
“Chiều tối qua.”
“Cô ấy có nói gì với huynh không?”
“Chẳng nói chẳng rằng. Cô nương ấy trông mặt mày ủ rũ, mua
xong đồ thì tiếp tục đi về phía trước rồi.”
“Đa tạ”, chàng chán nản lấy một lượng bạc quẳng cho người
kia.
Chủ gánh hàng kia mừng rỡ ngoài mong đợi hỏi: “Công tử, ngài
lấy mấy xiên?”.
“Tôi không ăn, anh lấy bán cho người khác đi”, chàng vỗ vỗ lạc
đà, không nản chí tiếp tục tiến về phía trước hỏi thăm từng nhà.
Đoạn cuối con phố nối liền với một quan đạo dài tít táp vắt
qua một thảo nguyên, thông tới một khu thành thị khác.
Đoạn đường bắt đầu của quan đạo có một khách điếm không lớn
không bé, cũng là cửa tiệm buôn bán cuối cùng trên con phố này.
Tiểu nhị nói cho chàng, đích xác là có một vị cô nương như
chàng tả vào khách sảnh gọi một bát trà sữa, còn hỏi thăm anh ta xem muốn đi về
phía đông tới khu vực giáp biển thì đi như thế nào. Tiểu nhị liền chỉ cho nàng
con đường quan đạo này. Nàng uống xong trà, trả tiền rồi đi luôn.
Nghe thấy vậy, Mộ Dung Vô Phong chỉ đành kéo dây cương, như
người mất hồn mà quay trở về nhà.
Ánh nắng đầu xuân êm ái chiếu qua cửa sổ, ngoài song còn
văng vẳng tiếng chim hót.
Chàng đã sức cùng lực kiệt, ủ rũ nằm xuống giường, trong đầu
là một khoảng trống rỗng.
Thân thể chàng vốn yếu đuối, vừa rồi bị nước giếng tưới ướt,
rồi lại thêm cả đêm qua rượu vào ngủ gục dưới đất bị nhiễm lanh, đến chiều thì
toàn thân bắt đầu nóng bừng.
Chàng định cắn răng xuống giường, tìm cho mình ít thuốc,
nhưng đầu váng mắt hoa, cả người mềm nhũn đành nằm đơ trên giường, mê mê man
man mà thiếp đi.
Tới nửa đêm thì toàn thân chàng nóng rực, miệng lưỡi khô khốc
muốn uống nước nhưng mí mắt nặng trĩu không mở ra nổi, vươn tay quờ quạng trên
cái bàn cạnh giường một lát cũng chẳng sờ thấy bình nước đâu, chỉ đành tiếp tục
gục đầu xuống mê man.
Cũng không biết ngủ tới lúc nào, đột nhiên có người lay mạnh
thân chàng. Chàng miễn cưỡng mở mắt ra, trời đi sáng từ lâu, một người trung
niên mặc áo xanh đang đứng trước mặt chàng.
Trong cơn mơ hồ, chàng hỏi: “Các hạ là ai? Sao lại chạy tới
phòng tôi?”.
Người kia nói: “Lâm đại phu, ngài không nhận ra tôi à? Tôi
là người nói chuyện với ngài hôm qua lúc ngài treo biển hiệu đó. Tôi họ Phí, gọi
là Phí Khiêm”.
Mộ Dung Vô Phong nhắm mắt lại, nói: “Bất kể là phí tiền hay
không phí tiền[1'>, hôm nay tôi không khai trương”.
[1'> Phí Kiêm và phí tiền trong tiếng Trung có cùng một âm đọc.
Phí Khiêm kêu lên: “