y, bên tai vang lên tiếng thét như tiếng hổ gầm, tích tắc tôi đoán ra
người đó là ai, khi cả người đã đi vào mộng cảnh do Hoa Tư điệu Tý Ngọ dệt ra,
chân vừa chạm đất, ngẩng đầu quả nhiên nhìn thấy khuôn mặt cau có của Quân Vỹ,
cúi đầu lại thấy Tiểu Hoàng nằm phục dưới chân.
Tôi bỗng chốc không biết
nói sao. Quân Vỹ nghiêng đầu nói: “Muội định làm gì, huynh đã nghe Mộ Nghi nói
hết rồi, đừng trách cô ấy”. Ngừng một lát, cúi nhìn tôi, “Cha và huynh tìm muội
mãi, khi muội vui, đương nhiên không cần đến huynh, nhưng khi muội buồn, A
Phất, tại sao không đến tìm huynh?”.
Tôi cúi đầu vuốt ve Tiểu
Hoàng: “Quân sư phụ có khỏe không? Nghe nói Mộ Ngôn không làm khó sư phụ”. Ngẫm
nghĩ một lát, lấy giọng vui vẻ thoải mái nhất nói với anh ta, “Đại khái như
huynh đã biết, đây là ngày cuối cùng của muội, thực ra huynh nên coi là muội đã
chết, bắt đầu từ khi muội được tái sinh, huynh cũng biết ngày đó sẽ đến, phải
không? Nhưng muội muốn dùng mấy ngày cuối cùng này làm một việc có ý nghĩa,
huynh định ngăn cản muội sao?”.
Tiểu Hoàng sau một hồi
hốt hoảng ra sức liếm tay tôi, đương nhiên nó không hiểu chuyện gì đang xảy ra,
giọng khàn đặc của Quân Vỹ từ phía trên vọng xuống: “Không, huynh đến là để
giúp muội”.
Tôi kinh ngạc, không phải
vì lời của Quân Vỹ, mà bởi vì giọng nói run run của mình: “Quân Vỹ, huynh hãy
đỡ muội, chân muội tê không đứng lên được”.
Tôi ngửi thấy mùi hương
dưới ánh trăng, đó là mùi y phục của Quân Vỹ được xông hương, đã lâu không ngửi
thấy, tôi lại có thể khôi phục tri giác rồi sao?
Hơi thở lan ra trong
không khí, ngưng thành làn sương trăng trắng, Tiểu Hoàng liếm tay tôi, răng
nanh cào vào tay đau điếng, tôi nhăn mặt. Cuối cùng vẫn chưa dám tin, tri giác
của tôi đã khôi phục thật rồi.
Quân Vỹ đưa cho tôi chiếc
gương, trong gương hiện lên một vầng trán trắng ngần, vết sẹo khiến tôi buồn
khổ bao ngày đã biến mất, dường như đã trở về thời hoàng kim, tuổi mười bảy đẹp
nhất của tôi.
Phải, đây là lúc tôi đẹp
nhất.
Xưa nay, tôi luôn muốn Mộ
Ngôn nhìn thấy tôi như thế này. Quả là Hoa Tư điệu Tý Ngọ lấy sinh mệnh của
mình gảy cho người khác, không ngờ lại có thể khiến tôi được thỏa mãn ước
nguyện của mình, tính mạng này quả thật đổi không oan.
Quân Vỹ mỉm cười nhìn vẻ
kinh ngạc của tôi, đề nghị nhân dịp này nên đến tửu lầu ăn mừng một trận. Ý
kiến rất hay, huống hồ Tiểu Hoàng vừa nghe nói đi tửu lầu đã sướng rơn lăn tròn
một vòng, nhưng tôi vẫn sốt ruột nói: “Thời gian không còn nhiều, nên đi tìm Mộ
Ngôn đã”.
Quân Vỹ cau mày, chỉ một
câu đã hoàn toàn thuyết phục tôi: “Trong mộng cảnh này muội đã là một người
sống, không phải như trước. Muội không ăn làm sao có sức đi tìm anh ta”.
Rất may chỗ đang đứng
không phải là cánh đồng hoang, đi theo Quân Vỹ một hồi đã nhìn thấy tửu lầu. Có
thể một lần nữa đi lại trên thế gian như một người sống, mặc dù trong mộng cảnh
tôi cũng thấy sung sướng vô chừng.
Trên đầu có hạt mưa, từng
giọt rơi xuống mặt sông, gợn lên những vòng tròn nhỏ lan tỏa, bầu trời mùa đông
màu chì nằng nặng, in bóng xuống mặt sông trong vắt, bên sông là tửu lầu. Bụng
đói cồn cào, tôi sải bước đi vào cửa lớn, đang đảo mắt lựa chọn chỗ ngồi, ánh
mắt lướt đến chiếc bàn bên cửa sổ, đột nhiên không thể nào di chuyển được nữa.
Hai cánh cửa mở toang,
rèm trúc cuốn cao, một cành mai trắng để trên mặt bàn gỗ hình vuông. Sắc mai
trinh trắng nổi bật bên cạnh bình rượu sứ màu lam nhẵn bóng long lanh như giọt
sương đầu cành. Ống tay áo gấm đen huyền của chàng trai phủ trên bàn tay đang
cầm bình rượu, trên sống mũi là chiếc mặt nạ màu bạc.
Mộ Ngôn. Không ngờ chúng
ta lại gặp nhau ở đây.
Chàng hơi ngẩng đầu, hình
như đang lắng nghe chàng trai trẻ vận áo trắng đối diện nói, do người đó quay
lưng lại, chỉ có thể thoáng nhìn thấy chiếc vòng ngọc màu đen trong tay chàng
ta.
Tôi sững người, xem ra
người ngồi cùng với chàng chính là Công Nghi Phỉ. Quân Vỹ có lẽ nhìn thấy cảnh
đó, nhưng làm sao biết người đó là Mộ Ngôn, nên đẩy tôi đi vào phía trong. Tiểu
nhị ra đón, cười nói ân cần: “Bên dưới đã hết chỗ, nhị vị quan khách xin mời
lên lầu”.
Nhưng tôi không thể nào
cất bước. Mộ Ngôn hơi nghiêng đầu, cuối cùng cũng ngoái lại, nhưng không nhìn
tôi. Tôi túm tiểu nhị hỏi: “Tiểu nhị ca có biết năm nay là niên hiệu gì?”. Đã
đi tới chiếu nghỉ ở lầu hai, tiểu nhị gãi đầu: “Năm Trang Công thứ hai mươi
ba”.
Trang Công. Nếu nhớ không
nhầm lúc đó thiên hạ chỉ có một vị Trang Công, chính là Lê Trang Công. Lê Trang
Công năm thứ hai mươi ba, đó là năm tôi mười sáu tuổi, hai năm sau khi tôi gặp
Mộ Ngôn ở núi Nhạn Hồi. Ánh mắt lơ đãng đó rút cục là có nhận ra tôi nhưng lờ
đi như không quen, hay là hoàn toàn không nhận ra?
Lên lầu hai ngồi vào bàn,
tôi vốn định làm rõ đây là thời điểm nào, nơi nào, ít nhất cũng dành thời gian
suy nghĩ cần làm gì khi gặp Mộ Ngôn, không ngờ lại gặp nhanh như vậy.
Tôi cúi đầu trầm ngâm suy
nghĩ, cảm thấy để tránh đi vào vết xe đổ, điều cần làm chỉ có một, chính là để
Mộ Ngôn nhanh chóng yêu tôi. Mộng cảnh này có thể tồn tại mãi,