y bận rộn, anh không muốn ông nhọc công làm gì nữa. Bản thân anh mệt rã rời, chả buồn cầm sách chứ đừng nói gì đến đọc chữ.
Ông Quốc Việt giỏi tiếng Nôm không kém gì tiếng mẹ đẻ vậy, chỉ trong vòng sáu ngày đã dịch xong phần một và hai. Còn phần cuối ông bảo chỗ này khá rối rắm nên anh cứ để nó ở đây, khi nào dịch xong ông gửi cho,
Anh biết tính ông cẩn thẩn, tỉ mỉ, đến cả những giấy tờ anh đi học lúc nhỏ, ông vẫn cất ở chỗ kín đáo. Vi thế nên anh đồng ý mà không hề lo lắng nó bị lộ ra ngoài. Anh lên xe quay trở lại trường học.
...
Ngồi trên giường, anh bắt đầu nghiền ngẫm bức thư và cuốn sách.
Bức thư của bà hoàng Lê Ngọc Hân đã được ông anh dịch xong toàn bộ. Trước khi nhờ ông dịch Quốc Việt cũng đã đọc qua nên nội dung anh cũng hiểu được tương đối. Phần anh chưa hiểu thật ra cũng không chứa quá nhiều thông tin lịch sử. Ngược lại thông tin về cuốn bí kíp thì nhiều.
Nhưng điều làm anh bất ngờ nhất là phần sau cùng của bức thư là do bà hoàng Bùi Thị Nhạn viết. Tuy kiến thức lịch sử anh không phải quá xuất sắc nhưng về các nhân vật nổi tiếng anh cũng biết.
Theo nội dung lá thư thì cuốn sách này vốn được cất giữ trong tay bà hoàng Ngọc Hân. Vì thương tiếc người chồng vắn số của mình, bà đã viết bà văn tế Ai Tư Vãn và cất nó cùng với quyển bí kíp. Ba gắng gượng nuôi hai con, đến lúc biết mình không thể cầm cự lâu hơn nữa thì bà trao chiếc hộp lại cho bà Nhạn. Mấy ngày sau thì bà mất. Tính ra bà chỉ sống được ba năm kể từ khi vua Quang Trung băng hà.
Chiếc hộp được chuyển sang cho bà Nhạn. Tình cảm giữa hai bà hoàng vốn rất tốt, bà Nhạn cất giữ chiếc hộp cẩn thận và viết tiếp vào bức thư, vẫn là những lời về vua lúc sinh thời.
Rồi khi bà biết không thể chống thể chống nổi quân của Nguyễn Ánh - tức vua Gia Long sau này, thì đem giấu nó ở dưới bàn cờ Tiên. Nguyên nhân vì sao chôn ở đấy cũng là một điều thú vị: vua Quang Trung từng dẫn bà lên đỉnh ngắm cảnh; lúc bấy giờ vua đã chính thức lên ngôi hoàng đế. Bà nhìn vật nhớ người nên đem nó chôn ở đấy.
Bức thư chỉ viết đến đấy, diễn tiến sau đó thế nào thì chính sử đã viết. Vua Gia Long đánh vào kinh thành, nhà Tây Sơn thất thủ. Bà Nhạn cùng con là vua Cảnh Thịnh chạy ra bắc. Đáng tiếc, kết cuộc vẫn thất bại, vua Cạnh Thịnh bị bắt, còn bà thì tự vẫn để bảo toàn khí tiết.
Đọc xong bức thư, Việt không nén được tiếng thở dài bi thương. Cảm giác như sự hưng vong của cả một triều đại đang tái hiện ngay trước mắt. Bức thư được viết với tâm huyết của chính những nhân vật mà trước giờ chỉ nghe qua những trang sách lịch sử. Một nỗi thương cảm khó giải thích bao trùm tâm trí anh. Giờ thì anh đã hiểu tại sao khi dịch, ông anh lại liên tục thở dài như vậy.
Hồi lâu sau anh mới bắt đầu đọc quyển bí kíp. Tâm trạng của anh từ bi thương ban đầu dần chuyển sang hứng thú. Dù sao đây cũng là quyển bí kíp võ học cả đời của một bậc anh hùng trong lịch sử.
Đọc sách của vua rồi anh mới biết, võ công thật sự không hề giống những gì được mô tả trong tiểu thuyết kiếm hiệp ba xu được bán trên thị trường hay đăng tràn lan trên mạng. Nó cũng không phải là một người vô tình nhặt được thần công, đọc nó, ngồi xếp bằng nhìn trời nhìn đất, hít thở, luyện khí bao nhiêu lâu đấy rồi đùng phát biến thành cao thủ võ lâm. Thực tế thì muốn luyện võ thành tài, phải trải qua không ít gian khổ, thậm chí đau đớn.
Võ Việt từ ngàn xưa đến nay cũng như nhiều loại võ khác, có một hệ thống tập luyện riêng biệt. Nhưng dù học loại nào đi chăng nữa, tất cả võ sinh đều phải trải qua một khoảng thời gian tập luyện dưới mọi hình thức như cày ruộng, gánh nước, giã gạo, xay lúa, đốn cây...
Các công việc lao động phải làm đấy chính là những bài tập rèn luyện sức mạnh theo quan điểm “học võ công trước hết phải luyện võ lực”. Bởi một lẽ, luyện theo đường lối luyện nội công thì phải mất rất nhiều thời gian, ít nhất phải mất vài năm tới vài chục năm tùy theo phương pháp tu luyện như thế nào. Giả sử trong thời gian bắt đầu luyện nội công, có kẻ tới kiếm chuyện, nếu không có căn cơ võ lực nhất định thì chưa kịp thành đạt được mơ ước thì đã gặp nạn rồi. Chính vì vậy, việc luyện võ lực là không thể thiếu. Chúng đòi hỏi võ sinh vận dụng sức lực và phải cố gắng, kiên trì trước khi được thầy dạy võ công cho.
Ngoài ra, giai đoạn này sẽ làm bộc lộ tính cách, ý chí của người luyện võ, đồng thời cũng để cho anh ta tu dưỡng "tâm bền, chí quyết" đối với việc luyện võ. Nói chung quá trình luyện võ lực có thể chia làm ba loại, tăng cường sức bền bỉ, chịu đựng của cơ thể và từng bộ phận.
Luyện tay thì dùng các ngón co lại bấu chặt vào miệng chiếc xô đựng đầy nước rồi nâng lên, hạ xuống nhiều lần cho đến khi các ngón căng cứng không còn nâng được nữa. Luyện tay và chân thì có cách xách hay túi vải lớn đựng cát, sạn rồi đi và chạy ngược lên rồi xuống dốc liên tục cho đến khi đôi chân mỏi không còn đi được nữa; hoặc cõng những bao gạo, những bó củi nặng trên vai, chạy trên đoạn đường dài lởm chởm sỏi, đá.. Chỉ có điều, các phương pháp tập luyện “võ lực” ghi trong sách đều dành cho võ sinh của thời xưa, khó mà áp dụng cho Việt tron