XtGem Forum catalog
Cẩm Khê Di Hận

Cẩm Khê Di Hận

Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

Thể loại: Truyện kiếm hiệp

Lượt xem: 325995

Bình chọn: 10.00/10/599 lượt.

ng buông lời chửi Quang-Vũ,

rồi đập đầu vào cột đá tuẫn tiết một lượt. Quang-Vũ thấy các tướng

Lĩnh-Nam trung liệt, cảm động. Y truyền khâm liệm tử tế. Hiện quan tài

đã vào đến thành.

Quách A buông tiếng khóc thảm thiết. Rồi thình lình bà rút kiếm tự tử.

Hoàng Thiều-Hoa đứng cạnh, bật tay một cái, bà đã bắt được kiếm Quách A. Bà an ủi:

– Sún Hô là sư đệ của ta, là chồng của em. Chúng ta cùng có cái đau đớn

như nhau. Song chồng em chết như vậy còn hơn bị giặc cầm tù, làm nhục.

Sún Hô thường nói với ta rằng Đầu có thể chặt, chứ không để bị nhục.

Đào Kỳ sai đưa linh cữu các tướng về Giao-chỉ an táng. Khi linh cữu về

đến biên giới Giao-chỉ, Trưng đế dẫn triều thần lên đón. Ngài truyền đem về quê an táng, xây đền thờ. Sắc phong như sau:

Nguyễn Tam-Trinh làm:

Văn thành, võ đức Long-biên vương.

Đền thờ của ông trải bao mưa nắng. Nay còn tại thôn Mai-động, huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Nội. Trước đền thờ có đôi câu đối:

Đình tiền cổ mộc âm sâm, thụ sắc như thôi Tô Bắc khứ,

Từ ngoại hàn dăm thoan kích, thủy thanh do hận Mã Nam lai.

Dịch nghĩa: Cây xưa ở trước miếu um tùm, màu lá xanh biếc như thúc đuổi

giặc Tô Định về đất Bắc. Đầm lạnh ngoài đền gợn sóng, tiếng nước reo còn căm hờn Mã Viện đến phương Nam.

Một đôi câu đối khác:

Đức bác thánh văn, truyền Việt địa,

Uy dương thần vũ chấn Nam thiên.

Dịch nghĩa: Đức của ngài rộng rãi, văn tài như thánh còn truyền ở đất Việt. Uy dương vũ dũng như thần, rung động trời Nam.

Nguyễn Lễ được phong:

Trung dũng đại tướng quân, Mai-động công.

Hiện nay không còn di tích đền thờ.

Cao Cảnh-Hào được đưa về Hoa-Lư an táng, sắc phong:

Thần-nỗ đại tướng quân, Trường-yên công.

Hiện nay không còn di tích đền thờ.

Đào Ngũ-Gia tức Sún Hô được phong:

Thiên ưng đại tướng quân, Sơn-tĩnh công.

Đền thờ tại Cửu-chân bị Trương Phụ phá hủy hồi 1407.

Lý Công-An tức Trâu Trắng được phong:

Trung dũng đại tướng quân.

Ngày nay đền tế cầu thờ ông vẫn còn tại xã Hồng-đức, huyện Ninh-giang, tỉnh Hải-hưng.

Xích-Hầu, không rõ tên họ, được phong:

Tây-vu hầu tướng, Lôi-chấn hầu.

Ngày nay đền thờ còn tại thôn Thập-miếu, xã Đồng-tháp, tỉnh Hà-bắc. Dân chúng thường gọi là đền thờ ông Lôi Chấn thời Vua bà.

Vi Lan được phong:

Chí đức, thiên tắc công chúa.

Hắc Phong Công chúa không rõ tên họ, được phong:

Chí nhu, dị tài công chúa.

Hai bà được thờ chung. Hiện nay đền thờ hai bà là đền Văn-Lan, thuộc xã

Trí-quả, phủ Thuận-thành, tỉnh Hà-bắc. Dân chúng thường gọi tắt là đền

thờ Ả Tắc, Ả Dị.

Hắc-Hổ, Hắc-Báo là anh em sinh đôi. Tử trận cùng ngày. Không rõ tên họ.

Chỉ biết sắc phong: Hắc-Hổ làm Nhất-Trung Á Thánh. Hắc-Báo làm Nhị Trung Á Thánh.

Đền thờ hai ông hiện ở xã Can-hựu, huyện Quốc oai, tỉnh Sơn-tây cũ. Dân

chúng thường gọi là đền thờ ông Nhất Trung Á, Nhị Trung Á.

Vi Đại-Nham được phong:

Ngao sơn đại tướng quân, Pháp-hải hầu.

Đền thờ ông hiện ở xã Cẩm-giàng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Hà-bắc. Dân chúng thường gọi tắt là đền thờ Vi Pháp-Hải.

Hồ Nam sư trưởng Thần-tượng được phong:

Trung liệt đại tướng quân, Tam-giang hầu.

Đền thờ ông hiện ở xã Đại-đồng, huyện Văn-lâm, tỉnh Hải-hưng. Dân chúng thường gọi là đền thờ Tam-giang.

Trâu Trắng, Trâu Ngáp, Trâu Lồng được phong:

Thiên ưng đại tướng quân.

Di tích đền thờ đến nay không còn. Riêng Trâu Mập, không biết tên họ là gì, được phong:

Thiên ưng đại tướng quân, Tam-Ngọ hầu.

Đền thờ của ông tên Bình-hạ, còn ở xã Đồng-quang, phủ Tiên-sơn tỉnh

Hà-bắc. Dân chúng thường gọi là Đền thờ ông Tam Ngọ thời vua Bà.

Thiên-trường tam kiệt Trần Quốc-Dũng, Trần Quốc-Uy, Trần Quốc-Lực được phong:

Trung liệt đại tướng quân, Thiên-Trường công.

Đền thờ ba ông cho đến cuối năm 1880 hãy còn ở bờ sông Vị-hoàng. Khi

người Pháp xây Giáo Hoàng chủng viện và trường học Saint Thomas. Đền thờ các ông bị phá hủy. Dân chúng góp tiền, xây một miếu khác, nhỏ hơn ở

giữa phố hàng Song và hàng Đồng. Trong cuộc đột kích của Việt-Minh vào

thành phố Nam-định hồi 1953, thiết giáp của Pháp bắn lầm vào miếu. Miếu

bị hủy hoàn toàn.

....

Đào Hiển-Hiệu dưỡng thương hơn tháng sau mới khỏi. Anh em đang ngồi bàn

truyện chống Hán, thì có sứ giả của Trưng đế tới. Sứ giả là Nguyễn

Quý-Lan. Đào Kỳ ra đón vào. Quý-Lan nói:

– Hoàng-thượng cho tôi lên trình với vương gia. Đạo quân nước Hồ Tôn

đánh vào phía Nam, bị Nhật-nam vương Lại Thế-Cường, cùng các vị Trương

Thủy-Hải, Trương Đằng-Giang, Trần Khổng-Chúng phá tan. Mặt nam coi như

yên. Phía Tây nước Lão Qua đem quân sang đánh. Bị Cửu-chân vương Đô

Dương phục binh, dùng hỏa công đốt. Quốc vương cùng cánh quân nước này

chết cháy. Hiện Phong-châu song quái cầm đạo quân mười vạn người đánh từ Tượng-quận về Giao-chỉ. Binh bộ thượng thư Chu Bá cùng công chúa Hùng

Xuân-Nương cầm quân cố thủ trong thành. Riêng mặt Nam-hải, Lưu Long đem

hai mươi vạn quân đánh xuống. Suốt mấy tháng qua, công chúa Thánh-Thiên

giữ vững thành trì. Lưu Long chia quân làm hai. Một mặt tiếp tục đánh

Nam-hải. Một đạo vượt đường biển chiếm đảo Hải-nam đổ bộ lên vịnh

Giao-chỉ, bị Đào Phương-Dung đánh lui.

Bà ngưng lại một lúc tiếp:

– Lê