Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328472
Bình chọn: 8.5.00/10/847 lượt.
kinh chia làm sáu thiên:
1. Đạo pháp (tội trộm).
2. Tặc pháp (tội cướp).
3. Tư pháp (hình phạt tù).
4. Bộ pháp (thủ tục).
5. Tập pháp (luật linh tinh).
6. Cư pháp (định nghĩa).
Khi soạn ra bộ Pháp-kinh, Lý Khôi đã tham khảo các bộ luật đương thời
của nước Ngụy, Trịnh về hình luật, nước Tần về thủ tục. Nước Chu về trộm cướp, định nghĩa. Bộ Pháp-kinh Lý Khôi soạn cho Ngụy Văn-Công (424-387
trước Tây-lịch). Song các pháp gia đời Thủy-Hoàng, đời Tây-Hán cho đến
nay đời Đông-Hán đều lấy đó làm căn bản.
Nói về luật lệ là vấn đề khô khan, tẻ lạnh. Song một là Hoàng Thiều-Hoa
đẹp như tiên. Hai là tiếng của bà trong, ngọt như cam thảo. Nên dù người ít đọc sách như Trấn-viễn đại tướng quân Hồ Đề, mà cũng theo dõi kịp.
Thiều-Hoa tiếp:
– Đến đời Cao-tổ nhà Hán (206-194 trước Tây-lịch). Thừa-tướng Tiêu Hà sửa đổi luật Lý Khôi, thêm vào ba chương nữa là:
1. Hộ luật, nói về kiểm tra dân số, giá thú, gia tộc.
2. Hưng luật, nói về thuế khoa, triều cống.
3. Khái luật, nói về quân đội, chuyên chở, chuồng voi, chuồng ngựa v.v.
Bộ Pháp-kinh có sáu thiên. Nay thêm ba thiên nữa thành chín thiên. Vì
vậy người ta gọi luật thời Hán Cao-tổ là luật Tiêu Hà hay Cửu chương
luật.
Bà đưa ra tập sách nữa:
– Kịp khi vua Quang-Vũ trung hưng nhà Hán. Giữa lúc đại ca Tự-Sơn đem
quân đánh Kinh-châu. Quang-Vũ thấy đại nghiệp sắp thành, mới sai sứ đến
Kinh-châu hỏi về việc canh cải luật. Đại ca Tự-Sơn đề nghị sửa chữa,
thêm bớt một số điều. Nhất là định rõ quyền hạn, tổ chức hậu cung, hầu
tránh nạn Vương Mãng. Song bản chất vẫn giữ nguyên như bộ Cửu-chương
luật.
Tổng trấn Luy-lâu Quách A hỏi:
– Không biết nội dung bộ Nam-luật như thế nào?
Nguyễn Tam-Trinh đáp:
– Khác nhiều lắm. Thứ nhất về nguyên tắc, thứ nhì về tổ chức. Về nguyên
tắc thì bộ Nam-luật đặt trên căn bản tục lệ và nhân trị. Bộ Pháp-kinh
đặt căn bản trên uy quyền và pháp trị. Tục lệ là gì? Khi một số người
sống chung với nhau, lâu ngày tự nó có những giao ước không thành văn,
dần dà biến thành tục lệ. Quốc-tổ đã chu du thăm trăm khu vực khác nhau. Sưu tầm phong tục, luật lệ của họ, về thu lại thành bộ luật chung. Còn
bộ Pháp-kinh đặt trên uy quyền. Vua muốn thế nào, thì cứ ban luật, dân
chúng phải tuân theo.
Bắc-bình vương Đào Kỳ hỏi:
– Điều này cháu đã nghe biết qua. Khi vua chúa ngồi trên, đặt ra luật,
trái với tập tục, bắt dân tuân. Dĩ nhiên họ không tuân, thế là họ bị bắt tội. Do vậy bên Trung-quốc hay xảy ra cảnh dân làm loạn. Thưa bác thế
còn nhân trị, pháp trị là gì?
Nguyễn Tam-Trinh tiếp:
– Luật đặt căn bản nhân trị, mục đích giáo hóa dân chúng hơn là dùng
hình pháp bắt tuân theo. Vua phải biết tu thân, làm gương cho người
trong nhà theo. Đó là đạo tề gia. Gia đình mình làm gương cho lân bang,
cho cả nước bắt chước. Đó là đạo trị quốc. Nước mình thanh bình, vua tôi đạo đức, khiến thiên hạ hướng về. Đó là đạo bình thiên hạ. Những điều
này chép đầy đủ trong sách Đại-học.
Bắc-bình vương Đào Kỳ nhìn Lục Mạnh-Tân. Vương chập chờn sống lại thời
thơ ấu, phải phiêu bạt làm tôi tớ tại Thái-hà trang. Được Lục Mạnh-Tân
yêu thương, tận tâm dạy dỗ. Lục còn dặn Vương:
– Với chí khí của con, sau này con sẽ thành đại nghiệp. Đại nghiệp
thành, con nên dùng nhân đức trị dân. Chứ đừng dùng hình pháp như nhà
Tần, nhà Hán bên Trung-nguyên.
Vì vậy Vương đỡ lời Nguyễn Tam-Trinh:
– Phò-mã An Tiêm đã từng nói: Người ta sinh ra vốn chưa biết gì cả. Khi
lớn lên, tiêm nhiễm thói xấu, thành ra phạm tội. Cần phải giáo hóa. Bên
Trung-quốc, sau đó gần hai nghìn năm, Mạnh-Tử nói Nhân chi sơ tính bản
thiện. Cũng như nước chảy chỗ trũng. Từ đời Chu (1066-770 trước
Tây-lịch) cũng dùng nhân trị. Cho đến thời Chiến-quốc, các pháp gia như
Hàn-Phi, Thương Ưởng, Lý Tư mới đưa ra pháp trị. Bộ Pháp-kinh soạn theo
nguyên tắc pháp trị.
Nguyễn Tam-Trinh cầm bộ Nam-luật đưa ra:
– Bộ Nam-luật có mười thiên. Khác xa với luật Trung-nguyên. Luật
Lĩnh-Nam hoàn toàn đặt trên nguyên tắc nhân trị. Nội dung có mười chương như sau:
1. Quốc-cương, nói về tổ chức triều đình, quan chế, hậu cung, sự truyền ngôi.
2. Bách-hầu, định rõ tổ chức, ranh giới, quyền hạn của các lạc hầu, lạc tướng.
3. Điển-lệ, định ra lễ nghi triều đình, cách tế lễ của vua cho tới thứ dân. Phương cách cúng giỗ tổ tiên.
4. Giá-thú, định việc cưới hỏi, tổ chức gia tộc. Bổn phận mỗi người trong gia tộc, cùng tang chế.
5. Hình-pháp, hình luật áp dụng trên toàn quốc. Tuy nhiên trong chương
này còn dự trù, mỗi địa phương có thể tăng hay giảm tùy theo tục lệ.
6. Khái-khố, tổ chức thuế khóa, công khố, ấn định giá cả.
7. Binh-luật, tổ chức binh bị. Phương cách thăng chức, tước. Hình phạt trong quân.
8. Hình-chế, định rõ thủ tục bắt giam, xử án, cùng các hình phạt đặt ra.
9. Tranh-tụng, thủ tục kiện thưa, bồi thường.
10. Phong-thần, định rõ thể lệ thờ cúng các thần. Những công lao được phong thần. Tài sản các đình chùa để cúng tế thần.
Công chúa Thánh-Thiên bàn:
– Như vậy bộ Nam-luật chi tiết hơn Cửu-chương luật nhiều. Có điều một số khoản không hợp với tình thế Lĩnh-Nam hiện tại. Như chương thứ
