Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328455
Bình chọn: 9.5.00/10/845 lượt.
niên hiệu ta: Trưng Đế
nguyên niên.
Phùng Vĩnh-Hoa tuân chỉ. Bà cho lập tòa Thiên-văn-giám. Truyền cứ đầu
mỗi giờ đánh ba tiếng trống, ba tiếng chiêng, đổi cờ một lần. Giờ tý cờ
đen. Giờ sửu cờ vàng. Giờ dần cờ xanh. Giờ mão cờ tím. Giờ thìn cờ vàng. Giờ tỵ cờ đỏ. Giờ ngọ cờ hồng. Giờ mùi cờ vàng. Giờ thân cờ ngà. Giờ
tuất cờ vàng. Truyền mỗi huyện mỗi trang đều làm theo.
Vua tôi thời Lĩnh-Nam thường không câu nệ gọi nhau bằng chức tước khách
sáo, mà sống như chị em. Trưng Đế theo đề nghị của Phương-Dung ban chiếu chỉ xuống các lạc hầu. Ai có ý kiến gì phục hưng đất nước, được gửi
biểu tấu về triều đình. Dân chúng có ý kiến, được đạo đạt lên lạc hầu,
lạc công, lạc vương hoặc triều đình.
Tìm lại nền nội trị, cứ theo các cuốn phổ ghi chú tiểu truyện của các
anh hùng Lĩnh-Nam thời đó. Dân Việt được hưởng cảnh yên vui chưa từng
có, hơn cả thời Hồng-Bàng, Âu-Lạc. Vụ lúa mùa tháng mười năm Kỷ Hợi (39
sau Tây lịch). Khắp Lĩnh-Nam trúng mùa.
Phải hơn một tháng phủ Đại-tư-đồ mới soạn xong lịch. Công chúa
Nguyệt-đức Phùng Vĩnh-Hoa ra lệnh khắc bản in, rồi trình lên vua Trưng.
Ngài truyền triệu tập tất cả các vị lạc vương, đại tướng quân các đạo,
cùng tam công, tể tướng, lục vị thượng thư, thiết đại triều duyệt xét,
trước khi tế Quốc-tổ, Quốc-mẫu, ban hành vào đầu năm. Phải mất hơn tuần
trăng, anh hùng các nơi mới tề tựu đầy đủ về thủ đô Mê-Linh.
Buổi họp khai mạc tại điện Kinh-dương. Cử tọa theo thứ bậc ngồi trước
bán thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vua Trưng đứng dậy tóm lược ý nghĩa việc ban
hành lịch để nêu rõ chính thống dân tộc. Lịch để cho nhà nông biết thời
tiết mà trồng trọt. Thầy thuốc biết các khí thay đổi, hầu trị bệnh. Ngài nhấn mạnh:
– Ngoài việc ban hành lịch, buổi hội cần có ý kiến các vùng để soạn thảo bộ luật Lĩnh-Nam. Chúng ta, nhân vì cái nhục vong quốc, cùng nhau đứng
dậy, đòi lại đất tổ. Đòi lại được rồi, chúng ta phải giữ gìn. Giữ gìn
không đủ. Chúng ta cần có bộ luật, là cơ chế tổ chức nền nội trị sao đem lại ấm no, hạnh phúc cho dân. Chứ dành lại được đất, mà khiến cho trăm
họ đói khổ, điêu linh, thì chúng ta chẳng khác gì bọn Hán cướp nước.
Cuộc khởi binh vừa qua, là một sự lấy bạo tàn thay bạo tàn.
Đầu tiên nói về việc ban hành lịch.
Công chúa Phùng Vĩnh-Hoa thuyết giảng về diễn tiến khoa lịch số từ thời
Hồng-Bàng đến bây giờ, cùng chi tiết việc soạn lịch. Lục Mạnh-Tân được
phong chức Thượng-tân khanh sĩ. Thượng nghĩa là ở trên hết. Tân là
khách. Thượng-tân khanh sĩ tức vị khách quý, cố vấn triều đình. Ông hỏi:
– Bên Trung-quốc, mỗi vua đều đặt niên hiệu riêng. Không biết Hoàng đế bệ hạ có đặt niên hiệu không?
Vua Trưng phán:
– Không! Trẫm không dùng niên hiệu riêng.
Đại tư-không Nguyễn Tam-Trinh giải thích:
– Hoàng đế bệ hạ đã cùng triều đình bàn định kỹ lưỡng về việc này. Vua
Lĩnh-Nam do quần hùng suy cử chứ không phải như Trung-quốc gọi vua là
thiên tử tức con của trời.
Ông nhấn mạnh về vua ở Trung-quốc:
– Vua được trời ủy nhiệm cai trị dân gian. Dân chúng phải tôn phục. Tuy
vậy không phải cái ý đó lúc nào cũng tồn tại. Như cách đây hơn hai trăm
năm năm. Tần Thủy-Hoàng vô đạo. Anh hùng các nơi nổi dậy như ong. Nhân
sĩ Trung-quốc coi đất nước, dân chúng như con hươu. Tần Thủy-Hoàng đánh
mất. Anh hùng tranh nhau ngôi vua, ví như đuổi hươu. Bởi vậy mới có câu: Tần thất kỳ chính, quần hùng trùng lộc nghĩa rằng: nhà Tần mất chính
trị. Anh hùng thi nhau đuổi hươu. Cuối cùng các anh hùng đều bại, chỉ có Lưu Bang với Hạng Vũ. Lưu Bang thắng, tức bắt được hươu, chứ chẳng phải con trời, con đất gì cả.
Vua Trưng phán với các anh hùng:
– Thời vua Hùng, quốc hiệu là Văn-Lang. Đến vua An-Dương, quốc hiệu là
Âu-Lạc. Nay chúng ta đã dùng quốc hiệu Lĩnh-Nam. Vì vậy khi làm lịch,
công chúa Nguyệt-Đức mới gọi năm tới là Lĩnh-Nam nguyên niên. Còn trẫm
thì cứ gọi hoàng đế Lĩnh-Nam đệ nhất. Sáu năm sau quần hùng suy cử người kế tiếp. Vị đó sẽ là hoàng đế Lĩnh-Nam đệ nhị.
Ngài quay lại nói với đại tư không Nguyễn Tam-Trinh:
– Trong các vị đây, chú là người nghe nhiều, hiểu rộng. Văn tài lại lỗi
lạc. Đúng là đức bác thánh văn. Vậy xin chú đừng tiếc công nói cho trẫm
với các vị hiện diện hôm nay về nguồn gốc tư tưởng con trời của
Trung-quốc.
Nguyễn Tam-Trinh cảm động nhìn vua Trưng, muốn rơi nước mắt. Nguyên từ
khi lên ngôi vua. Đối với người không thân thiết, ngài thường gọi bằng
chức tước. Thân hơn chút nữa, ngài dùng lối xưng hô trong võ đạo. Còn
đối với người quá thân thiết, ngài thường dùng những danh từ bình dân,
như trong gia đình. Hôm nay, trước mặt quần thần. Ngài gọi ông là chú,
hỏi sao ông không cảm động.
Ông đứng dậy, nói lớn:
– Trung-quốc có Tứ thư và Ngũ kinh. Ngũ kinh gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc và
Xuân-Thu. Quan niệm của họ thì kinh là những khuôn vàng thước ngọc,
không thể sửa đổi. Trong Kinh-thư có thiên Vũ-cống, bày tỏ đầy đủ quan
niệm về đất nước, vua chúa.
Ông móc trong túi ra bộ Kinh-Thư rồi tiếp:
– Kinh-thư thiên Vũ-cống gọi thế giới là phía dưới của trời, tức thiên
hạ. Thời cổ, lãnh thổ Trung-quốc không bằng một phần trăm ngày nay.
