Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328492
Bình chọn: 9.5.00/10/849 lượt.
là con voi. Dân Chiêm lấy biểu tượng là con cọp. Dân Hán lấy
biểu tượng là con rồng. Tất cả chỉ có một. Còn dân Việt mình lại có hai, rồng tượng trưng cho cha, cho trời, cho nam, cho dương. Tiên Âu-Cơ
tượng trưng cho mẹ, cho đất, cho nữ, cho âm. Âm-dương là lẽ biến hóa của trời đất. Cũng như truyện bánh chưng, bánh dầy vậy.
Vua Trưng hỏi Đại tư-đồ Phùng Vĩnh-Hoa:
– Này Vĩnh-Hoa! Thế nguồn gốc tư tưởng nói về vua là con trời, chép ở sách nào bên Trung-quốc?
Công chúa Nguyệt-Đức tâu:
– Tâu bệ hạ, nguồn gốc tư tưởng đó cũng phát xuất từ Kinh-thư, thiên Thái-thệ nói rằng:
Trời sinh ra dân,
Đặt ra vua, ra thầy,
Đều để giúp thượng đế,
Vỗ về dân bốn phương.
Trong sách Tả-truyện. Tả Khâu-Minh cũng viết Trời làm chủ thiên hạ. Vua
nối trời mà cai trị. Kẻ chịu mệnh trời thống trị thiên hạ là Thiên tử.
Sách Mạnh-tử thiên Ly-lâu nói: Thiên hạ là quốc gia. Gốc của thiên hạ ở
quốc. Gốc của quốc ở gia.
Lục Mạnh-Tân tiếp lời công chúa Nguyệt-Đức:
– Đến thời Chiến-quốc, thì người Hán không còn tin vào Kinh-thư mà cho
rằng thiên hạ là Trung-Quốc nữa. Trong bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên, quyển
thứ bảy mươi bốn Mạnh-tử, Tuân-Khanh liệt truyện, chép Trâu Diên đã nhận xét rằng Cái mà người ta gọi là Trung-quốc chỉ chiếm một phần tám mươi
mốt của thiên hạ. Tuy vậy bọn vua chúa vẫn cứ ôm lấy Kinh-thư để bảo vệ
ngôi vua cho giòng họ mình. Như thời Tây-Hán, các đời Tuyên-đế,
Thành-đế, Bình-đế thực là con chồn, con cáo ngồi trên đầu trăm họ. Vì
vậy, hôm nay các vị anh hùng Lĩnh-Nam tề tựu. Cần soạn lấy bộ luật sao
đem lại hạnh phúc cho dân.
Vua Trưng hướng Lục Mạnh-Tân xá một xá:
– Đa tạ Lục tiên sinh. Trẫm cũng đang nghĩ thế. Vua không phải để ngồi
trên đầu trên cổ trăm họ. Vua phải là người vì trăm họ, đứng ra mưu tạo
hạnh phúc. Ý nghĩ, việc làm của vua không phải lúc nào cũng hay, cũng
đúng. Dường như Mạnh-Tử có nói Dân mới quý, sau đến xã tắc. Vua thì coi
nhẹ thôi.
Lục Mạnh-Tân nhắc lại nguyên câu văn:
– Dân vi quý, xã tắc thứ chi. Quân vi khinh.
Bắc-bình vương Đào Kỳ bàn:
– Dĩ nhiên luật Lĩnh-Nam phải lấy căn bản từ luật vua Hùng vua An-Dương. Song nếu thấy Trung-nguyên có gì hay, ta cũng nên thu thái. Họ có gì
dở, ta cũng phải tránh. Bây giờ hãy bàn thêm về những gì dở của
Trung-quốc đã.
Nói đến đó Vương liếc nhìn thầy là Lục Mạnh-Tân. Hai thầy trò cùng mỉm
cười, tỏ ý tương thông. Nguyễn Tam-Trinh đứng lên thuyết trình tiếp:
– Tôi xin trở lại với Cửu châu và ngũ phục. Trong năm cõi trên, thì cõi
Điện là vùng bao quanh trung tâm Thiên hạ. Phía trong cõi Điện là Giao.
Trong Giao một trăm dặm là Quốc. Trong Quốc có thành gọi là Đô. Đó là
nơi vua ở. Vì vậy họ mới xưng là Trung-quốc. Tức nước ở giữa thiên hạ.
Ngày nay chúng ta có danh từ Trung-quốc, Trung-nguyên, Trung-hoa. Còn
danh từ Hoa hạ có nghĩa là Trung tâm của thiên hạ, đẹp đẽ nhất. Tức chỉ
văn minh Trung-quốc. Những người Hán chịu ảnh hưởng sách vở cổ, nêu ra
lý thuyết Nội Hoa-hạ ngoại Di-địch nghĩa rằng trong là Trung-quốc. Ngoài Trung-quốc đều là Man-di, mọi rợ.
Ông nhìn Lục Mạnh-Tân:
– Xin Lục tiên sinh giải thích rõ hơn về danh xưng Hoa-hạ. Chữ Hoa ở đâu mà ra?
Lục Mạnh-Tân đứng dậy đáp:
– Thời cổ tộc của Trung-quốc cư ngụ ở vùng lưu vực sông Hoàng-hà. Xung
quanh là các sắc dân kém văn minh. Vì họ tự hà Vĩnh-Hoa tiếp:
– Bộ Nam-thiên bách tộc đại luật áp dụng trong suốt từ năm Nhâm-Tuất
(2879 trước Tây lịch) đến năm Quý-Mão (258 trước Tây lịch), trải hai
ngàn sáu trăm hai mươi hai năm. Khi vua An-Dương đánh vua Hùng lập nước
Âu-Lạc, ngài vẫn cho dùng bộ Nam-luật. Bộ Nam-luật áp dụng đến năm
Quý-Tỵ (208 trước Tây-lịch) tức thêm năm mươi năm nữa. Cộng lại hai ngàn sáu trăm bẩy mươi hai năm (2672). Khi Triệu Đà đánh Âu-Lạc. Y xuất thân là chức quan của Tần Thủy-Hoàng, vì vậy y cho áp dụng luật đời Tần bên
Trung-quốc. Luật Trung-quốc thì tôi không rành cho lắm.
Triều đình cùng đưa mắt nhìn Lục Mạnh-Tân. Ông cũng lắc đầu. Chỉ có Hoàng Thiều-Hoa mỉm cười:
– Mấy năm nay, tôi từng đến Lạc-dương vấn an Hàn thái-hậu. Nhân nhàn
rỗi, tôi có nghiên cứu về luật Trung-quốc. Có thể nói tất cả luật lệ,
điển chương Trung-quốc đều để ở điện Gia-đức. Chỉ có hoàng đế, thái tử,
công chúa cùng tam công, tể tướng, thượng thư được đọc mà thôi. Tôi phải nhờ Hàn thái-hậu với Chu Tường-Qui mượn cho đọc. Nhân đó tôi cho sao
chép đầy đủ.
Bà lấy trong bọc ra mấy bộ sách, để trước mặt:
– Trung-quốc có luật cùng thời với Lĩnh-Nam. Tức luật Thần-Nông. Đến đời Hoàng Đế (2550 trước Tây-lịch) cũng từng ban hành luật. Đời Hạ
(2140-1711 trước Tây-lịch), Thương (1711-1066 trước Tây-lịch), Chu
(1066-255 trước Tây-lịch) đều có luật lệ. Đến nay các bộ luật trên không còn nữa.
Bà đưa ra tập sách mỏng tiếp:
– Đây là bộ luật nước Trịnh, do Tử Sản soạn (536 trước Tây-lịch). Bộ
luật nước Tần do Triệu Dương-Hoán soạn, khắc vào đỉnh (513 trước
Tây-lịch). Bộ luật Trúc-hình do Đặng Tích soạn cho nước Trịnh (501 trước Tây-lịch) khắc vào thẻ trúc.
Bà đưa ra tập sách thứ nhì:
– Đến đời Chiến-Quốc (403-232 trước Tây-lịch) Lý Khôi soạn ra bộ Pháp-kinh. Bộ Pháp-