y cũng giống Tống Tổ
Anh, mỗi khi năm mới là nước Áo liền phát nhạc của ông.” Từ Văn Diệu lắc đầu, lại chuyển kênh. “Ngại quá, những khi nghe mấy bài kiểu này tôi
lại đau đầu.”
Vương Tranh nhịn cười: “Tại sao? Đây là bản nhạc tràn đầy sức sống cơ mà.”
Từ Văn Diệu thở dài: “Nghe bản giao hưởng này tôi lại nghĩ tới những ngày
còn đi học, gì mà bánh xe lịch sử cuồn cuộn tiến về phía trước, gì mà
chúng ta là những bông hoa của tổ quốc… những lời nói sáo rỗng lừa bịp
dân chúng. Lứa bọn tôi, chắc là lứa cuối cùng của chủ nghĩa lý tưởng.
Bọn tôi được giáo dục khác với các cậu. Bọn tôi mang theo lý tưởng chủ
nghĩa mà giong buồm ra khơi, đến khi đụng phải đá ngầm rồi mới hay đây
là một xã hội hàng hóa,” Anh ảm đạm nói, “Thật ra, xã hội hàng hóa cũng
không có gì là không tốt, có rất nhiều lề thói quy tắc không thể thay
đổi, cũng như trong quá trình hình thành lại xây dựng ra những nguyên
tắc vận hành mới mẻ, tạo ra nhiều cơ hội mới cho người khác được chiêm
nghiệm nó. Nhưng để có thể thích ứng với chúng, bọn tôi phải tự xóa bỏ
chủ nghĩa tinh anh ấy ra khỏi đầu.”
“Xóa bỏ?”
“Phải, giống như người ta loại bỏ những phế phẩm không cần tới vậy.”
“Tôi có chút không hiểu, chẳng phải mục đích mà giáo dục hướng tới chính là
để người ta có thể có được những kiến thức ưu tú đó sao?”
“Đúng
thế, và đó cũng chính là chỗ dở của giáo dục. Cậu nghĩ đi, nếu từ nhỏ,
cha mẹ, thầy cô cùng thân thích, bạn bè đều nói với cậu, cậu là nhân
tài, cậu không giống người khác, cậu nhất định sẽ đạt được những thành
tựu vĩ đại, mở ra tiền đồ xán lạn, thì liệu cậu còn thấy đó là chuyện
tốt nữa không?”
Vương Tranh thật thà đáp: “Về cơ bản, nó là một kiểu tán dương, hơn nữa nó cũng là nền tảng để anh có được giáo dục tốt.”
“Quả thật là vậy, nhưng về phương diện khác, nó sẽ vô hình trung biến thành
một thứ định kiến ăn sâu vào đầu, khiến cậu không cách nào tự do được.
Không nói tới những thứ khác, chỉ riêng việc giả thiết tinh anh đó sẽ
biến những người kia khi bước ra xã hội, nhận ra rằng họ không phải là
nhân tài, mà giống những người bình thường khác. Những thứ gọi là tiền
đồ, thành tựu chỉ là một loại ảo tưởng mà thôi, hoàn toàn không có gì
xác tín được. Vậy lúc này người đó sẽ làm gì?”
Vương Tranh im lặng.
“Đặt giả thuyết là có một ngày, cậu bỗng dưng phát hiện, có rất nhiều chuyện trên đời diễn ra không theo bất kỳ quy tắc nào, bởi vì chẳng ai có thể
dựng lên lề thói bắt người ta tuân theo được. Nhưng cậu lại vì cái quan
niệm mình là nhân tài ăn mòn quá sâu, khiến bản thân không thể nào chấp
nhận chuyện cậu không khống chế được mọi chuyện trong tay. Định kiến bén rễ sâu trong đầu sẽ xung đột với sự vận động không quy luật của xã hội, dễ dàng khiến cậu nao núng, thậm chí còn phá hủy cậu.”
“Anh Văn Diệu…” Vương Tranh lo lắng.
Từ Văn Diệu bật cười, miễn cưỡng nói: “Ý tôi là, mọi chuyện đều coi thành
bại mà luận anh tài, nên có phải là tinh anh hay không vốn chẳng liên
quan gì.” Anh như muốn che giấu điều gì đó nên tiếp tục dò đài, lúc này
tiếng violin nhẹ nhàng vang lên, anh vừa lòng thở dài, nói: “May quá, là Antonio Vivaldi[5'>!”
[5'> Antonio Vivaldi (1678-1741) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ violin, nhà sư phạm, chỉ huy dàn nhạc người Ý, được mệnh
danh là “Thầy tu đỏ chơi vionlin”. Khi qua đời, ông đã để lại một gia
tài âm nhạc đồ sộ với trên 500 bản Concerto, gần 100 bản Sonata cùng các sáng tác thuộc thể loại khác.
“Là Tổ Khúc Bốn Mùa[6'>, một bài
tôi rất thích,” Vương Tranh nói. “Trong quá trình học thi tiến sĩ, tôi
vẫn hay nghe tổ khúc này của ông ấy, vừa nghe vừa học từ mới.”
[6'> Tổ khúc Bốn mùa là bốn bản concerto cho solo violin, violin I, violin II, viola, cello và continuo.
“Ừm, nó chắc là một bản nhạc nền hay.” Từ Văn Diệu gật gù. “Lúc tôi còn ở
Mỹ, phải vừa học vừa làm. Mỗi ngày phải làm đến những mười rưỡi đêm,
khoảng thời gian ngồi tàu điện ngầm về nhà là khoảng thời gian hạnh phúc nhất mỗi ngày của tôi khi ấy.”
“Tại sao?”
“Lúc đó, tôi sẽ vừa nghe Vivaldi trong mp3, vừa đọc sách của Kim Dung mà nghĩ, cuộc đời thật sung sướng, chẳng còn mong gì hơn.” Từ Văn Diệu nói thêm: “Cậu có
đọc Kim Dung không? Tôi đã thuộc tất cả võ công môn phái trong truyện
của ông ấy, hôm này rỗi cậu thử kiểm tra xem.”
Đoạn, nụ cười của
anh chợt tắt, nhẹ nhàng nói: “Vivaldi và Kim Dung, theo tôi, rất giống
nhau. Ý tôi là họ có thể dễ dàng khơi gợi các cảm xúc tích cực của người khác. Tác phẩm của họ có rất ít cảm xúc u ám, cho dù có đề cập đến mấy
thứ ngoài trào lưu thẩm mỹ, nhưng họ che giấu nó rất tốt, họ có thể ổn
định nó trong một hàng rào riêng biệt, không để chúng xuất hiện ám ảnh
người khác. Vì vậy mà Tổ Khúc Bốn Mùa lúc nào cũng mở ra trước mắt người khác cảnh trời vạn dặm trong xanh, mây trắng nhẹ trôi, và một chút mưa
tuyết, nó cũng giúp tâm tình vui vẻ. Còn dưới ngòi bút của Kim Dung,
người tốt luôn tự do, không nằm trong khuôn khổ kìm hãm của quyền lực,
có thể tự tại tiêu dao. Mặc dù kết cục của Quách Tĩnh và Hoàng Dung
không tốt, nhưng cũng chỉ được đề cập một cách qua loa trong Ỷ thiên Đồ