ải là cách viết chữ ‘Thọ’ trong Lan Đình Tự của vua Khang Hy,”
thầy Lý vừa chỉ vừa nói. “Bộ bên trái giống chữ ‘Tử’ và chữ ‘Tài’, góc
trên bên phải nét bút giống chữ ‘Đa’, góc dưới bên phải là chữ ‘Điền’,
nhưng chữ Điền này lại không đóng bộ khẩu, thầm chỉ phúc lành vô biên.”
Mọi người gật đầu lia lịa, như đã ngộ ra chân lý.
“Chữ Phúc này bao gồm chữ Tử, Tài, Đa, Điền, Phúc, Thọ, ý chỉ đa tử, đa tài, đa điền, đa phúc, đa thọ,” thầy Lý cười, “đã hiểu chưa?”
“Tâm cơ của Khang Hy thật sâu xa,” tôi nói.
“Đừng nói linh tinh đi,” Noãn Noãn nói.
“Hòa Thân mới được gọi là có tâm kế, thông minh tuyệt đỉnh. Chỉ đáng tiếc,
ông ta có hướng cầu phúc, có đạo hưởng phúc, nhưng lại không biết tích
phúc. Do vậy tuy vinh hoa một đời, lại là người nhiều phúc, cuối cùng
vẫn rơi vào kết cục tự vẫn, nhà cửa bị tịch thu.” Thầy Lý ngừng một lúc, nói tiếp: “Ý nghĩa thực sự của phúc, thực chất là tích phúc.”
Thầy Lý nói xong, đoạn dặn dò mọi người mau về nghỉ ngơi sớm, rồi rời khỏi giảng đường.
Đám chúng tôi buôn chuyện một chập nữa, mới ai về phòng nấy.
Cậu em khóa dưới vừa về đến phòng liền mặc ngay chiếc áo phông chữ Phúc. Từ Trì còn lại gần sờ một vòng.
“Thoải mái quá,” cậu em nói, “Anh, anh cũng ra đây sờ đi.”
Tôi chẳng buồn để ý đến cậu ta.
“Anh, em còn mặc cả quần sịp chữ Phúc đây này,” cậu ta lại nói. “Không sờ thật à?”
“Đồ biến thái!” tôi túm lấy gối đập cho cậu ta mấy cái vào đầu.
Cậu ta cười ha hả, Từ Trì và Cao Lượng cũng cười phá lên.
Tôi nằm trên giường, ngẫm nghĩ về lời thầy Lý vừa nói: Ý nghĩa thực sự của phúc, thực chất là tích phúc.
Nếu như nói quen với Noãn Noãn thật sự là cái phúc của tôi, vậy lại phải tích phúc thế nào đây? Sáng sớm ngủ dậy, bước tới phòng vệ sinh vẫn còn mơ mơ màng màng.
Đụng ngay phải cậu em khóa dưới, cậu ta bảo: “Anh, lêu anh cái mông.” Tôi
lập tức tỉnh táo, kẹp cổ cậu ta, đe: “Vừa sáng ra đã muốn ăn đòn hả.”
“Là Từ Trì dạy em,” cậu ta thều thào trước khi đứt hơi.
Từ Trì nói đây là tiếng địa phương ở quê cậu ta, dùng để chào hỏi.
Cũng chẳng biết là thật hay giả, nhưng trông bộ dạng Từ Trì chẳng giống đùa chút nào.
Nếu gặp phải con gái mà nói câu này chắc sẽ bị kiện tội quấy rối, còn nếu phải con trai, hẳn sẽ bị tẩn cho một trận nhừ tử.
Nhưng vẫn còn hơn cậu chàng đó lại tụt quần xuống mời bạn chào hỏi thật.
Trước cửa nhà ăn, thầy Lý đứng bàn bạc với thầy Trương một lúc, rồi thông
báo: “Hôm nay chúng ta ra ngoài uống nước đậu, cảm nhận chút ít văn hóa
ẩm thực Bắc Kinh xưa.”
Tôi hỏi Noãn Noãn: “Nước đậu là sữa đậu nành á?”
“Đương nhiên không phải,” Noãn Noãn nói, “sữa đậu nành làm từ đậu tương, còn
nước đậu làm từ đậu xanh. Nước đậu chỉ Bắc Kinh mới có, ở nơi khác không thể uống được.”
“Có ngon không?” tôi lại hỏi.
“Đảm bảo sẽ khiến anh có ấn tượng sâu sắc,” Noãn Noãn nói, thái độ rất kỳ lạ.
Tôi thấy lạ, lại hỏi Từ Trì: “Nước đậu có ngon không?”
“Sẽ khiến anh nhớ suốt đời.” Thái độ của Từ Trì cũng rất thần bí kỳ quái.
Tôi nghĩ Cao Lượng là người thật thà, lời nói có lẽ không giả, bèn hỏi tiếp Cao Lượng: “Nước đậu có ngon không?”
“Ờ...” Cao Lượng ậm ờ một hồi, nói: “Lần đầu em uống xong, ba tháng sau ngất ngưởng ngật ngưỡng.”
Ấn tượng sâu sắc, nhớ suốt đời, ba tháng ngất ngưởng ngật ngưỡng, tại sao đều là mấy loại hình dung này.
Trả lời có ngon hay không lại khó đến thế sao?
Nếu như bạn hỏi: Cô bé đó trông thế nào?
Người ta trả lời: Xinh lắm, bảo đảm khiến cậu nhớ suốt đời.
Bạn đương nhiên sẽ rõ, mình sắp được yế kiến một tuyệt thế giai nhân rồi đây.
Nhưng nếu như người ta chỉ trả lời: Đảm bảo khiến cậu ấn tượng sâu sắc, nhớ suốt đời, ba tháng ngất ngưởng ngật ngưỡng.
Làm sao bạn biết cô bé đó có xinh hay không? Dẫu gặp khủng long cũng sẽ ấn
tượng sâu sắc đến cả đời không quên, rồi ba tháng sau ngất ngưởng ngật
ngưỡng mà.
Vừa bước vào tiệm nước đậu, đã lập tức ngửi thấy một mùi men chua nghẹt mũi, khiến người ta thấy không thoải mái cho lắm.
Bát nước đậu đặc sánh được bê lên, màu xanh tro trong vắt; ngoài ra còn có một đĩa dưa muối, một đĩa quẩy vòng.
Sợi dưa muối mỏng dài được rắc lên mấy hạt vừng với dầu cay, còn quẩy vòng được rán tới vàng ruộm.
“Cái này phải ăn nóng,” Noãn Noãn bảo tôi, ánh mắt vừa như cười lại như không cười.
Tôi lập cập bưng bát lên, cẩn trọng kề miệng vào thành bát, chậm rãi húp một ngụm nhỏ.
“Ặc!” Tôi kêu lên thảm thiết, nước đậu không chỉ chua mà còn có mùi kỳ kỳ như đậu phụ thối, khiến người ta buồn nôn.
Tôi phồng mang trợn má, bóp mũi bịt tai, nhăn nhó mặt mày, vận đủ ngũ quan mà vẫn không đuổi được cái vị kỳ quái đó đi.
Noãn Noãn cười khúc khích, vừa cười vừa nói: “Mau ăn ít dưa muối cho xuôi đi đã.” Tôi vội vàng gắp một gắp dưa muối bỏ vào miệng, nhồm nhoàm nhai
vài miếng, quả nhiên có tác dụng.
“Vị nước đậu kỳ thật đấy,” tôi nói.
“Đấy là ảo giác thôi,” Noãn Noãn nói, “thử lại lần nữa xem.” Tôi lại bê bát
lên, hít sâu một hơi, vũ trang lại tâm lý, rồi nín thở uống một ngụm
nữa.
Đây nào phải ảo giác? Đây là mùi vị kỳ quái chân thực chứ
còn gì nữa. Lúc nước đậu trôi tuột xuống cổ họng, tôi xém chút nữ
