Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328421
Bình chọn: 8.5.00/10/842 lượt.
i Trần
Tự-Sơn, bây giờ thêm Giao-Chi. Ông tưởng Giao-Chi sẽ chối từ. Ông có cớ
đó, thoát vòng vây của Phương-Dung. Không ngờ Giao-chi với Phương-Dung
tri kỷ với nhau từ lâu. Họ yêu chồng, kính chồng, mưu tìm hạnh phúc với
chồng... Song có một điều Đô Dương không nghĩ tới: Họ xuất thân giòng
dõi trung lương, coi việc nước lớn hơn tính mệnh. Vì vậy Đô Dương mới bị vợ cột chân cứng ngắt. Ông không lấy thế làm buồn, nghĩ trong lòng: Nếu vì Giao-Chi mà chết, ta cũng được chết vì sung sướng. Huống hồ gánh vác việc nước. Ông đứng dậy chắp tay nói lớn:
– Nếu các anh hùng Cửu-chân, đều tín nhiệm. Đô Dương tôi xin tuân lệnh.
Đinh Đại hỏi các anh hùng vùng Cửu-chân:
– Có ai phản đối việc chúng ta suy cử này không?
Quần hùng, đệ tử Cửu-chân đồng loạt hô lớn:
– Tuyệt đối không!
Trưng đế phán:
– Mời Đô đại ca lên đài làm lễ trước bàn thờ Quốc-tổ và trước Linh cữu Đào vương gia.
Đô Dương lên đài, lễ trước bàn thờ Quốc-tổ tám lễ. Ông thề lớn:
– Đệ tử Đô Dương, được anh hùng Cửu-chân suy cử nhận trọng trách lạc
vương Cửu-chân. Đệ tử nguyện dùng hết tâm trí, bảo vệ đất nước. Nếu đệ
tử sai lời, bị chết dưới muôn ngàn đao, kiếm.
Anh hùng các nơi vỗ tay rung động trời đất.
Trưng đế đến trước linh cữu Đào vương, hành lễ. Tuyên sắc phong:
Long công, thịnh đức,
Chí minh, đại nghĩa,
Cửu-Chân vương.
Ngài nói với các lộ anh hùng:
– Anh hùng các nơi đâu về đó. Đào tam đệ, Phật-nguyệt, Thánh-Thiên,
Hiển-Hiệu phải lên đường trấn nhậm ngay. Chậm một ngày, nguy một ngày.
Trẫm muốn cùng tam công, tể tướng đi khắp các nơi, thăm dân cho biết sự
tình. Cũng để tuyên cáo Lĩnh-Nam đã trở về với người Việt.
Trưng Đế hỏi Tư-không Nguyễn Tam-Trinh, Tể-tướng Phương-Dung:
– Hiện các lạc vương cai trị dân bằng võ đạo. Ta chưa có luật. Vì vậy
trẫm muốn cùng sư thúc và các sư muội thăm khắp nơi, để hiểu biết dân
tình. Sau đó trở về phiền sư muội soạn ra bộ luật cho Lĩnh-Nam.
Phùng Vĩnh-Hoa tâu:
– Hán có gì hay, ta phải học. Hán có gì dở, ta phải tránh. Hán có luật,
có điển chế triều đình, có lịch nêu rõ chính thống. Ta cũng phải soạn
lịch. Chẳng nên dùng lịch Trung-nguyên.
Phương-Dung biết Phùng Vĩnh-Hoa xuất thân phái Sài-sơn, uyên thâm văn minh Lĩnh-Nam. Bà hỏi:
– Vấn đề Lịch-số, em có biết qua. Song chưa tường tận. Xin sư tỷ đừng tiếc công chỉ dạy.
Phùng Vĩnh-Hoa lấy trong bọc ra hai cuốn sách nhỏ, đưa cho Phương-Dung:
– Đây, hai cuốn sách, dạy cách làm lịch, tính thiên văn của Lĩnh-Nam từ hơn ngàn năm trước.
Trưng đế ngạc nhiên:
– Ta chưa từng biết qua lịch Lĩnh-Nam. Xin lắng tai nghe sư muội nói.
Phùng Vĩnh-Hoa tâu:
– Đời Hồng-Bàng, Lĩnh-Nam lập quốc từ năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây
lịch). Quốc tổ ra lệnh làm lịch. Ngài tuyên chiếu chỉ: Lịch là kỷ cương
của âm, dương, liên hệ giữa người với trời đất. Mỗi đời vua đều có quan
Thái-sử-lệnh coi việc chép sử. Thiên-văn-lệnh coi xét về mưa nắng, mùa
màng. Lịch-quan-lệnh coi về làm lịch.
Phương-Dung tỏ ý hiểu biết:
– Lịch quan làm lịch. Văn-Lang có lịch riêng từ hồi đó. Đến khi Triệu Đà đánh dân Âu-Lạc, dân Việt dùng lịch Trung-nguyên. Không biết lịch
Trung-nguyên với lịch Hồng-Bàng có khác nhau không?
– Đại thể giống nhau. Chi tiết khác nhau. Giống nhau vì cùng đặt trên
học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành. Khác nhau vì ở vào hai vùng khí hậu nóng, lạnh.
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Trở lại nguồn gốc, sử sách Trung-nguyên, Lĩnh-Nam đều ghi. Đời
Hồng-Bàng, năm thứ 527 bên Trung-nguyên, niên hiệu vua Nghiêu thứ năm
(2353 trước Tây-lịch). Vua Hùng muốn Trung-nguyên biết về văn minh
Văn-Lang, truyền sai chép cách làm lịch vào lưng một con rùa cực lớn,
đem cống. Lưng con rùa lớn tới ba thước (0,96 mét). Vua Nghiêu sai chép
lấy, gọi là Qui-lịch.
Điều mà bà Phùng Vĩnh-Hoa tâu lên Trưng-đế là đúng. Sử Việt đã ghi.
Trong bộ "Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục" của Quốc-sử quán triều Nguyễn, phần Tiền-biên có ghi chép sự kiện này. Sử Trung-quốc chép
tương tự. Sách Thống-chí của Trịnh Tiều (1104-1162) chép đầy đủ. Trịnh
Tiều còn nhấn mạnh rằng: Đó là nguồn gốc lịch Trung-quốc sau này. Như
vậy điều Tư-đồ Lĩnh-Nam Phùng Vĩnh-Hoa tâu lên Trưng đế không phải
truyền thuyết nữa, mà là sự kiện lịch sử.
Phùng Vĩnh-Hoa tiếp:
– Lịch Hồng-Bàng chia ngày làm một trăm khắc. Khắc chia làm một trăm
phân. Phân chia làm một trăm giây. Năm dài 365,2425 ngày. Độ dài của mỗi tuần trăng bằng 29,53059 ngày. Khi Phò-mã An Tiêm, bị tội, đày ra đảo
Hải-nam. Ngài ngồi ngắm nhật, nguyệt chuyển vận, sửa chữa lịch
Hồng-Bàng. Hết hạn lưu đày, ngài dâng lịch lên vua Hùng. Được vua khen
ngợi, truyền sao phát cho các lạc hầu, dân chúng dùng. Lịch Hồng-Bàng có cơ sở vững chắc tự đó.
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Con số một năm dài 365,2425 ngày, so với con số ngày nay chỉ sai có hai
mươi sáu giây. Tuần trăng dài 29,53059 so với ngày nay chỉ sai có 2%
giây. Đây là lý thuyết. Chứ trên thực tế, ngày nay người ta cũng dùng
con số 29,53059.
An Tiêm là Phò-mã của vua Hùng-Vương. Được vua thương yêu, ngài thường nói:
– Ta sở dĩ được thế này do phúc đức tổ tiên để lại. Do trời thương ta.
Vua Hùng nổi