t Âm nhu, tay phải phát Dương
cương thì Âm, Dưong biến hoá sẽ thành thế gian vô địch.
Nguyễn Tam Trinh thở dài:
– Ta nghe đồn rằng học trò của Ðào-hầu, người nào cũng xuất chúng. Nghe
cháu hỏi, ta mới thấy thẹn rằng chưa bao giờ mình nghĩ đến. Ta biết trên đời này chưa có ai làm được điều đó. Hy vọng sau này, hậu thế có người
tài trí hơn, tìm ra cũng nên.
Ðào Kỳ nói:
– Thưa bác, bố cháu thường nhắc tới các phái Sài-sơn, Tản-viên, Hoa-lư,
Cửu-chân và Long-biên. Ngoài ra còn nhiều Lạc-hầu, Lạc-tướng cũng định
lập một phương như môn phái. Cháu không hiểu nguồn gốc các phái ấy như
thế nào? Võ công của họ khác nhau ra sao?
Tam Trinh đáp:
– Nói về nguồn gốc các phái võ của người Việt thì rất giản dị. Khởi thuỷ không có môn phái nào cả. Sau khi Phù-đổng Thiên-vương đánh giặc Ân
rồi, ngài lên Sài-sơn ẩn dật, dạy dỗ đệ tử. Ðời này truyền đời khác, đến nay vẫn còn lưu giữ tên Sài-sơn. Võ của ngài thiên về Dương cương, sở
trường về đánh roi, đánh gậy. Tuy nhiên các môn võ công khác cũng có.
Ðến khi vua Hùng ra lệnh mở võ đài tuyển người võ giỏi nhất làm phò mã,
thì Hoá Ðức tức Sơn Tinh thắng khắp anh hùng thiên hạ mà được diễm phúc. Từ đấy Sơn Tinh mở trường dạy học ở núi Tản-viên mà thành phái
Tản-viên. Khi An-Dương vương thắng Hùng-vương, các Lạc-hầu, Lạc-tướng
phiêu bạt khắp nơi, mạnh ai nấy lập môn hộ, nên có nhiều phái. Nhưng các Lạc-hầu, Lạc-tướng nguyên đều xuất thân ở Sài-sơn, võ công có hơi giống nhau. Các ngài mới hội nhau lại thống nhất kỹ thuật. Rút cuộc còn hai
phái trên. Khi An-Dương vương tự vận ở Cửu-chân, các tướng sĩ theo hộ
giá có ba nguồn gốc: Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung. Các tướng được An-Dương vương dặn dò ẩn náu, nuôi chí đợi thời phục quốc. Họ thu đệ tử, truyền võ, do vậy truyền nhân của
Cao-cảnh hầu là phái Hoa-lư. Truyền nhân của Vạn-tín hầu Lý Thân là phái Long-biên. Truyền nhân của Trung-tín hầu là phái Cửu-chân. Âu-lạc thắng Văn-lang, nên phái Sài-sơn, Tản-viên chống lại Âu-lạc. Ðến khi Triệu Ðà chiếm Âu-lạc, thì các truyền nhân của Văn-lang, như Tản-viên, Sài-sơn
họp với các phái của Âu-lạc là Long-biên, Cửu– chân, Hoa-lư chống Triệu. Triệu bị giết, con cháu họ lập phái Quế-lâm. Ngày nay các võ phái
Văn-lang, Quế– lâm cùng chung hận vong quốc, họp nhau lại thành võ học
Lĩnh-nam chống Hán phục Việt...
Ðào Kỳ than:
– Võ phái hiện có sáu, còn các gia, các phái cũng không ít, ai cũng xưng hùng, xưng bá hết. Theo ý lão bá thì phái nào võ công cao nhất?
Tam Trinh lắc đầu:
– Khó có thể quyết định được. Võ công Tản-viên thì thiên về Dương cương, võ công Sài-sơn thì khi nhu khi cương. Võ công Long-biên thì nhu hoàn
toàn. Võ công Cửu-chân, Hoa-lư thì dương cương thuần tuý.
Ðào Kỳ reo lên:
– Cháu hiểu rồi. Như vậy nếu tập trong vòng ba năm đến năm năm thì người đệ tử Âu-lạc ta dễ thành công hơn người của Văn-lang. Còn tập từ năm
năm trở đi, thì võ công Văn-lang sẽ hơn Âu-lạc.
Tam Trinh gật đầu:
– Ðúng như vậy.
Tam Lễ hỏi:
– Ðào tiểu sư đệ, ta không hiểu nguyên lý đó.
Ðào Kỳ nói:
– Thế này nhé, nếu một đệ tử tập võ trong vòng ba đến năm năm thì có thể học hết các chiêu thức của môn hộ. Nếu họ học võ công Âu-lạc thiên về
lấy nhanh thắng chậm thì họ thắng được đệ tử Văn-lang. Nhưng sau đó nếu
họ tập thêm từ bảy năm trở đi, thì không còn tập chiêu thức nữa mà chỉ
luyện nội công, vậy công lực ai mạnh thì người đó thắng. Các cao nhân
chỉ đấu với nhau một hai chiêu là đã biết được ai thắng, ai bại rồi. Mà
võ công của Văn-lang thiên về dương cương, thì đánh chậm mới phát huy
được hết sức mạnh, nên họ thắng.
Tam Trinh tiếp:
– Sáu đại môn phái cứ năm năm họp nhau một lần để trao đổi kinh nghiệm.
Nói là trao đổi, chứ thực sự là để đấu với nhau, tranh giành danh tiếng
để xem phái nào vô địch thiên hạ. Lần đấu cuối cùng là năm ngoái, họp
nhau ở núi Ngũ-lĩnh, võ công đệ nhất về phái Tản-viên, đệ nhị về phái
Long-biên, còn đệ tam thuộc về phái Cửu-chân nhà cháu.
Thiều Hoa nói:
– Dường như thể thức đấu, không đơn đấu mà song đấu thì phải?
Tam Trinh lắc đầu:
– Không hẳn thế, cứ một lần song đấu, một lần đơn đấu. Lần cuối cùng là
song đấu. Hai người của phái Tản-viên là Nguyễn Thành Công và Ðặng Thi
Kế quả thực là anh hùng, đánh thắng năm môn phái đoạt chức thiên hạ võ
công đệ nhất. Phái Long-biên thì Nguyễn Trát và Phan Ðông Bảng đoạt đệ
nhị võ công thiên hạ, về đệ tam thuộc phái Cửu-chân thuộc Cửu-chân song
kiệt là sư phụ, sư thúc cháu.
Ðào Kỳ gật đầu:
– Bố và cậu cháu thường khâm phục tám vị Thái-bảo phái Sài-sơn, mà không phục các vị cao nhân của những phái kia, vì cho rằng đạo đức mới đáng
khâm phục.
Tam Trinh nói:
– Ðúng đó, sau khi đoạt Lĩnh Nam võ công đệ nhất, thì phái Tản-viên xảy
ra biến cố, đệ tử của Nguyễn Thành Công là Phong-châu song quái phản sư
môn, gây không biết bao nhiêu tai vạ cho giang hồ. Nguyễn tiên sinh bỏ
đi mất tích. Còn Ðặng Thi Kế thì truyền chức chưởng môn cho Thi Sách rồi quy ẩn. Thi Sách tuy là người hùng tâm, có chí khí anh hùng, nhưng võ
công lại không hơn Song-quái. Phái Quế-
