đưa ra đường lối đối phó với bọn biên thần Tống hiếu sự. Chính sách gồm bẩy điều. Nhưng điều quan trọng nhất là: đối với triều đình thì hậu lễ, lời khiêm. Ðối với bọn biên thần thì thẳng tay dùng sức mạnh.Ghi chú:Xin đọc Anh-hùng Bắc-cương, cùng tác giả, 4 quyển.Ông Phó lý hỏi:- Vụ Tống dở quẻ ra làm sao xin cụ nói cho rõ để cả làng được hiểu.Lý trưởng bỡ ngỡ một chút rồi hướng vào một người già, tóc bạc phơ, nhưng không râu, ngồi ở chỗ cao nhất:- Vụ này Quân-hầu biết nhiều, xin Quân-hầu giảng cho .Lão già gật đầu nói:- Ðược, được chứ.Một thanh niên hỏi bạn:- Ông này có phải là Trung-nghĩa hầu không? Lý lịch ông ra sao?-À, ông có tên là Trịnh Quang-Thạch, vốn là gia tướng của quan Kiểm-hiệu Thái-phó, Tả-bộc-xạ, Ðồng-trung-thư môn hạ bình chương sự, Chiêu-văn-quan đại học sĩ, giám tu quốc sử Dương Ðức-Thành, tức Tể-tướng thời vua Thái-tông. Hồi trẻ ông hầu tiểu thư con quan Dương tể tướng. Sau tiểu thư tiến cung được phong Thiên-Cảm hoàng hậu, ông tự thiến làm thái giám hầu Hoàng-hậu. Vì ông có võ công cao, cùng văn tài, nên dần dần được thăng lên đến chức Nhập-nội đô-tri. Ông cũng có thời cầm quân. Lúc về hưu, ông được thăng hàm Trung-nghĩa đại tướng quân, tước Siêu-loại hầu. Vùng mình ở đây là ấp phong của ông. Khi mới được phong, ông đem tông tộc, rồi mượn thêm một số nhân sĩ, mở ra trường Trung-nghĩa để dạy văn, luyện võ cho thiếu niên. Hiện có rất nhiều võ tướng, văn quan xuất thân từ trường ông, nên ông có uy tín với triều đình.- Hèn gì ai cũng cung cung kính kính với ông.Siêu-loại hầu nói:- Từ xưa đến giờ biên giới Tống-Việt thường ngăn cách bằng 207 trang ấp. Các trang ấp này là lạc ấp còn sót lại từ thời vua Hùng. Mỗi trang là một giòng họ, người cai trị là một lạc hầu. Người Hán gọi là khê động. Các khê động thường bị biên thần Tống lấn áp, đe dọa, vì vậy khi thì họ theo Tống, khi thì họ theo Việt. Vào thời vua Thái-tông, Khai-Quốc vương giúp cho tộc Nùng nổi lên, đánh chiếm Lưỡng-quảng. Nùng Trí-Cao được tôn làm Nhân-Huệ hoàng đế (1052), quốc hiệu là Ðại-Nam. Nước Ðại-Nam bao gồm lãnh thổ 107 khê động với Lưỡng-Quảng. Ðại-Nam, Ðại-việt, Ðại-lý, Lão-quan, Xiêm-la, Chân-lạp, Chiêm-thành kết thành tộc Việt, để chống lại Tống, nếu Tống xâm lăng.Ông ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa rồi tiếp:- Nhưng khi Trí-Cao đắc thế rồi thì y lại muốn dùng 9 tộc Nùng cai trị các tộc M án, Th ái, Trang, Mèo, Lô-lô, Tày. C ác lạc hầu của 198 tộc kh ác chống lại. Trí-Cao thẳng tay đàn áp. Y còn bắt c ác tộc kh ác bỏ phong tục, tiếng nói của mình, mà học tiếng H án, chữ H án. Thế là Ðại-Nam bị rạn nứt. Thấy việc nguy hại, vua bà Bình-Dương phải can thiệp. Nhưng Trí-Cao cho rằng nước mình còn lớn hơn Ðại-Việt, dân đông hơn tất cả c ác nước thuộc tộc Việt, nên y không nghe. Sau cùng chính vua Th ái-tông sai sứ sang khuyên răn, y cũng không nghe. Vì vậy, 198 tộc kh ác bỏ Ðại-Nam, xin trở về với Ðại-Việt, rút lại lãnh thổ của y chỉ có 9 khê động Nùng với phần đất Lưỡng-Quảng. Tống dò được tin đó, sai Ðịch Thanh mang đại quân sang đ ánh. Người H án tại Lưỡng-Quảng nổi lên theo Tống. Lúc đầu Trí-Cao thắng được mấy trận. Sau bị bại, mất hết vùng Quảng-châu, Khâm-châu, Liêm-châu. Y vội rút về Quảng-Tây. Biết thế nguy, y cầu cứu với vua Th ái-tông.Ông ngừng lại, nhấm một chung trà. Ð ám thanh niên trẻ nhao nhao lên hỏi:- Thưa cụ thế Ðại-Việt có cứu Trí-Cao không?Siêu-loại hầu hỏi ngược lại:- Theo chư vị, Ðại-Việt có nên cứu hay không?Lập tức cả đình ồn lên bàn t án, kẻ thì bảo nên cứu, người thì bảo không nên. Siêu-loại hầu hỏi một trung niên nam tử:- Thầy đồ Th ái, thầy là người có kiến thức, thầy cho biết ý kiến?Làng Thổ-lội có hai thầy đồ dạy chữ. Thầy thứ nhất ăn lương của trường Trung-nghĩa, họ Trần, tên là Trọng-San. Thầy đồ thứ nhì ăn lương vua, họ Qu ách tên Sĩ-An, nhưng vì cụ Tiên-chỉ trong làng cũng tên là Sĩ-An, nên thầy xin đổi là Th ái, để kiêng húy vị ngồi đầu hương đảng. Nghe Siêu-loại hầu hỏi, thầy đứng dậy cung tay:- Thưa cụ, nếu ch áu là vua Th ái-Tông thì ch áu cứu y.Lập tức có nhiều tiếng ồn ào:- Không cứu tên phản bội. Không, không cứu.Thầy đồ Th ái nói:- Thưa cụ, theo như ch áu nghĩ, người xua quân đ ánh chiếm Lưỡng-Quảng là Khai-Quốc vương chứ không phải vua Th ái-Tông. Chính Vương đã ứng mệnh trời, hợp lòng người, cùng võ lâm suất lĩnh tộc Việt tiến đ ánh chiếm lại đất cũ thời vua Hùng. Vương giao cho tiên-cô Bảo-Hòa tổng chỉ huy. Còn sắc dân Nùng với Trí-Cao chỉ có một đạo quân nhỏ. Ngôi vua với nước Ðại-Nam như từ trên trời rơi xuống cho Trí-Cao với 9 khê động Nùng. Nên sau khi lên ngôi vua, Trí-Cao bắt buộc phải dùng người H án, dùng văn tự H án. Dĩ nhiên người H án khuyên y nên t ách khỏi tộc Việt thành một nước riêng. C ái ngu của Trí-Cao là phía Bắc Ðại-Nam tiếp gi áp với vùng Kinh-hồ của Tống. Vùng này vua Tống phong cho phò mã Tự-Mai làm Kinh-Nam vương. Ð áng lẽ Trí-Cao phải biết rằng Kinh-Nam vương là người dùng binh giỏi nhất Hoa-Việt, y cứ dựa vào Vương để Vương làm bức tường trấn Tống cho, thì Ðại-Nam vững như bàn thạch. Ðây y lại vô lễ với Vương. Y viết thư cho Vương mà d ám xưng trẫm, coi như m