Teya Salat
Cẩm Khê Di Hận

Cẩm Khê Di Hận

Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

Thể loại: Truyện kiếm hiệp

Lượt xem: 328390

Bình chọn: 7.5.00/10/839 lượt.

đánh Quang-Vũ chạy trên trăm dặm. Tinh khôn, trung liệt, bí

mật nhập Lạc-dương cứu sư tỷ Thiều-Hoa. Khảng khái, hào hiệp, can đảm.

Đào Tứ-Gia có tâm Bồ-tát, nguyện hy sinh tính mệnh cứu sư huynh, cho

rằng sư huynh cần sống, bảo vệ Lĩnh-Nam. Võ đạo cao như vậy, cổ kim chưa từng có. Nay năm người còn sống, tài đáng đại tướng. Sắc phong cho Đào

Tứ-Gia làm:

Đại nhân, chí đức, minh nghĩa đại vương.

Truyền xây cất đền thờ ở Tây-vu.

Còn lại năm người, sắc phong: Lĩnh-Nam Thiên-ưng đại tướng quân, tước Liệt-hầu. Truyền trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

– Tây-vu lục hầu tướng, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Được Hồ Đề đem về nuôi

dạy. Tài điều khiển Thần-hầu như đội quân tinh nhuệ. Vượt núi Kim-sơn,

vào Thục. Từ cổ không ai làm được. Đấu leo dây với Thanh-Châu, nêu rõ

tài Phù-Đổng của thiếu niên Lĩnh-Nam. Trận Trường-an, đột nhập thành,

đánh Quang-Vũ đến phải bỏ đất Tần mà chạy. Sắc phong: Lĩnh-Nam Thần-hầu

tướng quân, tước Liệt hầu. Truyền trấn thủ bắc Lĩnh-Nam.

– Tây-vu tam báo tướng, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Được Hồ Đề đem về nuôi

dạy. Tài điều khiển báo, xung phong hãm trận. Dự trận Võ-đô, Dương-bình

quan, Kiếm-các, Trường-sa. Lập đại công. Mới đây đánh Long-biên,

Luy-lâu. Lưu danh muôn thủa. Sắc phong Lĩnh-nam Tam-báo tướng. Tước

Liệt-hầu truyền trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

– Hồ Hác, tài trí hơn người. Điều khiển đoàn Thần-tượng, đánh trận

Xuyên-khẩu, Bạch-đế, Quảng-an, vào Thành-đô. Trận Trường-an khiến hai

mươi lăm vạn quân Tần bị dẫm nát. Sắc phong Tượng-uy đại tướng quân.

Tước Tiên-sơn hầu. Truyền trấn đóng Bắc Lĩnh-Nam phòng giặc.

– Ngao-sơn tứ lão, tuổi đã cao. Tâm tính trung hậu. Chỉ huy đội

Thần-ngao canh phòng, trinh sát. Khắp các trận Trung-nguyên đều có mặt.

Sắc phong Ngao-sơn đại tướng quân. Tước Liệt-hầu. Truyền trấn đóng Bắc

Lĩnh-Nam phòng giặc.

– Mai-động Ngũ-hùng, Nguyễn Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Giòng dõi trung

lương. Tài kiêm văn võ. Dẫn đội tráng đinh Mai-động, đánh úp Độ-khẩu.

Sau chiếm Vị-nam. Tài trí đã hơn đời. Trung liệt càng sáng tỏ. Sắc phong Mai-động liệt-hầu. Đội Mai-động được phong làm Thần-kình Lĩnh-Nam.

– Thiên-trường Tam-kiệt, Trần Quốc-Dũng, Trần Quốc-Uy, Trần Quốc-Lực.

Giòng dõi trung lương, con trai lạc hầu Thiên-trường Trần Quốc-Hương.

Khi cha trọng nhậm Nam-hải, thay cha trấn Thiên-trường. Ngày đêm nuôi

chí phục quốc. Lệnh khởi binh ban ra. Ba anh em đánh chiếm ba thành,

chín đồn từ Thiên-trường tới Long-biên. Đem tráng đinh vây Long-biên,

đánh Luy-lâu. Chí khí hào hiệp. Sắc phong Trần Quốc-Uy làm Kiến-xương

hầu. Trần Quốc-Dũng làm Giao-thủy hầu. Trần Quốc-Lực làm Trung-thành

hầu. Đồng lĩnh ấn đại tướng quân. Trấn thủ Thiên-trường, Lục-hải.

– Thần-nỏ Âu-lạc Tứ-hùng, xuất thân danh gia đệ tử. Tiễn thủ xuất chúng. Được cử tòng chinh Trung-nguyên. Trước xuất thủ đánh chiếm Võ-đô,

Nam-bình, Bình-võ. Sau đánh Dương-bình-quan, Kiếm-các. Tại Cẩm-dương,

dùng tiễn thủ chinh phục tướng Thục. Giữa trận kết nghĩa huynh đệ. Dũng, lược, nghĩa, mưu toàn tài. Sắc phong Liệt-hầu. Truyền lĩnh ấn đại tướng quân, trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

– Hợp-phố Lục-hiệp, đại nhân, đại nghĩa, đại hiệp. Theo Lĩnh-nam công

chinh tiễu các thái thú tham ô, giết bọn Hán tàn ác. Lĩnh chức Thái-thú, Đô-úy khắp vùng Lĩnh-Nam. Đâu đâu cũng gây được kính trọng trong dân.

Nay Lĩnh-Nam phục hồi. Không muốn vướng mắc công danh. Thuận cho được

ngao du sơn thủy, trao quyền ngang với Lạc-vương. Thấy tham quan, ác bá

bất kể cấp nào, được quyền chém đầu răn chúng. Đổi tên Hợp-phố lục hiệp

thành Lĩnh-nam lục hiệp. Riêng Lưu Nhất-Phương tuẫn quốc, sắc phong:

Nhân dũng, đại nghĩa bảo quốc đại vương.

Truyền cấp hai mươi mẫu đất tốt làm hương hỏa. Quanh năm thờ kính.

Ngoài ra các anh hùng khác đều lĩnh chức tước của các Lạc-vương, không thấy ghi trong bảng phong công thần.

Sau đây, một vài chi tiết tìm được:

Cửu-chân:

Lạc vương: Đô Dương.

Tư-mã: Lạc công Đinh Đại.

Tư-đồ: Nghi-sơn hầu Đào Nghi-Sơn.

Tư-không: Biện-sơn hầu Đào Biện-Sơn.

Giao-chỉ:

Lạc vương: Trưng Nhị.

Tư mã: Thọ-xương hầu Trần Dương-Đức.

Tư đồ: Phương-nghi hầu Chu Thổ-Quan.

Tư không: Tần-lĩnh công Đặng Thi-Kế.

Nhật-nam:

Lạc vương: Lại Thế-Cường.

Tư mã: Linh-việt hầu Trương Thủy-Hải.

Tư đồ: Dương-tĩnh hầu Trương Đằng-Giang.

Tư không: Kiến-bình hầu Trần Khổng-Chúng.

Quế-lâm:

Lạc vương: Lương Hồng-Châu.

Tư mã: Lôi-sơn công Đinh Công-Thắng

Tư đồ: Linh-lăng công Triệu Anh-Vũ.

Tư không: Nam-sơn công Phan Đông-Bảng.

Tượng-quận:

Lạc vương: Hàn Bạch.

Tư mã: Quế-dương hầu Chu Đức.

Tư đồ: Nghi-dương hầu Vương Hồng.

Tư không: Giao-sơn hầu Chu Thanh.

Nam-hải:

Lạc vương: Trần Nhất-Gia.

Tư mã: Khúc-giang công Trần Nhị-Gia.

Tư đồ: Trung-sơn công Trần Tam-Gia.

Tư không: Nhu-sơn công Trần Tứ-Gia.

Còn hai vị, địa vị cao cả, Trưng hoàng đế không phong chức tước, chỉ ban chiếu tôn xưng. Thứ nhất Khất đại phu Trần Đại-Sinh:

Chí nhân, đại từ, thánh y.

Lĩnh-Nam tiên ông.

Cựu hoàng đế Trần Tự-Sơn, được tôn làm:

Ứng càn, ngự cực,

Thần Văn, Thánh Võ,

Long Công, Thịnh Đức,

Nhân Huệ, Chí Minh,

Thái thượng hoàng đế.

Sau khi tuyên đọc sắc