Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328334
Bình chọn: 8.5.00/10/833 lượt.
vương xong. Ngài ngồi vào ngai bằng gỗ
trầm đặt trên khán đài quay về hướng đông. Mỗi bên của ngài có ba cái
ghế nữa, dành cho sáu vị lạc vương.
Ngài đứng lên nói lớn:
– Đất Lĩnh-Nam chúng ta vong quốc hơn hai trăm năm. Nhờ ơn Quốc-tổ, nhờ
anh hùng, toàn dân, cùng góp công, góp sức, được phục hồi. Trẫm chiếu
công lao, tài năng, đức độ, của các anh hùng, phong chức tước. Chức tước trẫm phong cho các vị, không phải để hưởng sung sướng trên đầu, trên cổ dân chúng. Cũng không phải riêng trẫm ban phát cho các vị. Chức tước có ý nghĩa: Trăm họ Lĩnh-Nam, lao tưởng đến công ơn các vị. Chức tước, để
các vị mưu tìm hạnh phúc cho trăm họ.
Ngài ngưng lại cho anh hùng, dân chúng vỗ tay hoan hô rồi tiếp:
– Cách đây mấy ngày, trẫm đã cử Nguyễn-phương-Dung, Hồ-Đề,
Vũ-trinh-Thục, Đào-Kỳ với tiên sinh Lục-mạnh-Tân, chiếu theo cơ chế thời Văn-Lang, Âu-Lạc, nghiên cứu cơ chế các đời trước bên Trung-Nguyên,
thiết lập triều đình Lĩnh-Nam sao cho hợp với dân chúng. Sau đây trẫm
long trọng tuyên cáo với trăm họ.
Cứ như tài liệu rãi rác ở các cuốn phổ, tại đền thờ anh hùng thời bấy giờ, tổ chức như sau:
Lãnh Thổ. Chia làm sáu vùng, gồm Nhật-Nam, Cửu-Chân, Giao-Chỉ, Quế-Lâm,
Tượng-Quận, Nam-Hải. Đối chiếu với hiện tại: Tây giáp Thục ngày nay
thuộc tỉnh Tứ-Xuyên, Trung-Quốc. Bắc giáp Trung-Nguyên. Đông giáp biển.
Nam giáp nước Chiêm-Thành. Tây Nam giáp nước Lão-Qua, tức Ai-Lao. Bao
gồm lãnh thổ Việt-Nam ngày nay từ Huế đến biên giới Trung-Quốc. Và lãnh
thổ Trung-Quốc gồm các tỉnh Vân-Nam, Quảng-Đông, Quảng-Tây, một phần
tỉnh Hồ-Nam. Diện tích 1.127.851 cây số vuông. So với diện tích Việt-Nam hiện tại là 329.566 cây số vuông, thì diện tích Lĩnh-Nam rộng gấp 3,42
lần.
Tổ chức hành chính, đế quốc Lĩnh-Nam chia ra sáu vương quốc. Do sáu lạc
vương cai trị. Lạc vương được bầu lên sáu năm một lần. Sáu vương quốc đó là:
Nhật-Nam, từ Huế đến Nghệ-An. Diện tích 19.080 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên Lại-thế-Cường.
Cửu-Chân, gồm Nghệ-An, Thanh-Hóa. Diện tích 34.418 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên Đào-thế-Kiệt.
Giao-Chỉ, gồm từ Ninh-Bình tới biên giới Trung-Quốc. Diện tích 115.439 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên Trưng-Nhị.
Tượng-Quận, gồm tỉnh Vân-Nam, Trung-Quốc, diện tích 318.000 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên Hàn-Bạch.
Quế-Lâm, gồm tỉnh Quảng-Tây, một phần tỉnh Quí-Châu, một phần tỉnh
Hồ-Nam. Diện tích 429.000 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên
Lương-hồng-Châu.
Nam-Hải, gồm tỉnh Quảng-Đông. Diện tích 212.000 cây số vuông. Lạc vương đầu tiên tên Trần-nhất-Gia.
Dân Số, dân số ước khoảng hơn chín đến mười triệu người. Giống Việt
chiếm 65%, Hán chiếm 30%, còn lại giống khác 5%. Tiếng nói chính thức là tiếng Việt. Lĩnh-Nam dùng văn tự Khoa-đẩu, tượng thanh.
Tổ chức triều đình, trên hết là hoàng đế Lĩnh-Nam, do các lạc hầu, lạc
công, lạc vương, tướng sĩ suy cử, sáu năm một lần. Hoàng đế đầu tiên tên Trưng-Trắc. Hoàng Đế có ba phụ tá cao nhất: tư không, tư đồ, tư mã gọi
là tam công. Tư-đồ coi về lương thảo, trị an. Tư-mã coi về quân đội. Tư
không coi về học hành, điển chế, lễ nghi.
Dưới tam công có tể tướng. Tể tướng cầm đầu sáu bộ. Mỗi bộ do một thượng thư quản lĩnh: Bộ Binh, bộ Hình, bộ Hộ, bộ Lại, bộ Công, bộ Lễ.
Các lạc vương cũng có tam công, lục bộ giống như hoàng đế.
Theo đề nghị của triều đình, hoàng đế Lĩnh-Nam truyền xây thành Mê-Linh, đóng đô tại đây.
Trưng hoàng đế ban sắc chỉ phong cho anh hùng các nơi, đã có công phục
quốc. Đầu tiên phong thần cho tất cả anh hùng đã hy sinh trong thời gian phản Hán phục Việt. Sau đó bàn đến việc phong chức tước cho công thần.
Sắc phong:
Nguyễn-Thành-Công, văn võ toàn tài. Khí hùng trí dũng. Suốt bao năm nằn
gai nếm mật, mưu phục quốc. Bị Lê-đạo-Sinh bắt giam mười năm. Vẫn không
đổi chí. Khi còn thuộc Hán, trấn nhậm Quế-Lâm, can đảm ban hành pháp
lệnh cải cách. Giết tham quan người Hán. Lệnh khởi binh ban ra. Đánh
chiếm Quế-Lâm trong hai ngày. Xếp đặt cai trị qui củ. Sắc phong
Tương-Liệt đại vương. Lĩnh chức Tư-không (Tương đương với ngày nay là
phụ tá Tổng-thống đặc trách Kinh-tế, Tài-chánh, Canh-nông)
Phùng-Vĩnh-Hoa, mưu thần chước thánh. Tuổi mười tám đã cùng Đào-Kỳ,
Nguyễn-phương-Dung, Lê-Chân, Đàm-ngọc-Nga, mưu phục quốc ở Đăng-Châu.
Kịp đến khi tùng chinh Trung-Nguyên, làm quân sư cho Ngô-Hán, đánh chiếm Dương-bình-Quan, Võ-Đô, Kiếm-Các, Cẩm-Dương. Khởi đầu cho việc hòa hợp
với Thục, chia ba thiên hạ. Làm quân sư cho Đinh-Đại, đem toàn bộ trên
ba mươi vạn quân rời Thục về Lĩnh-Nam. Điều hòa được mầm phản loạn của
tướng binh Hán trong các đạo Lĩnh-Nam. Lúc khởi binh, thiết kế đánh
chiếm Tượng-Quận trong ba ngày. Tổ chức cai trị, khiến trăm họ yên vui.
Sắc phong Nguyệt-Đức công chúa. Ăn lộc vùng Tiên-Nha, Yên-lạc. Lĩnh chức tư đồ, cùng trẫm lo hạnh phúc cho dân. (Tương đương với ngày nay là
Phụ-tá tổng-thống về Văn-hóa, Giáo-dục, Thông-tin).
Đào-Kỳ, giòng dõi trung lương. Mười ba tuổi, lưu lạc cha mẹ. Phiêu bạt
phải làm đầy tớ tại trang Thái-Hà. Học được bản lĩnh vô địch thiên hạ.
Tại Cổ-Loa, Cổ-Đại, Cổ-Lễ, tuy tuổ