Cẩm Khê Di Hận
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 328324
Bình chọn: 8.5.00/10/832 lượt.
i ấu thơ, đánh thắng võ sĩ của
Tô-Định, khiến giặc tha dân cố đô không chịu Ngũ-pháp. Cùng Phương-Dung, Lê-Chân, Đàm-ngọc-Nga, Phùng-vĩnh-Hoa mưu phục quốc ở Đăng-Châu. Phá vỡ mưu kế giặc trong đại hồi hồ Tây. Thống lĩnh ba mươi vạn quân Lĩnh-Nam
đánh Thục. Vào Thành-Đô trước được Quang-Vũ phong Hán-Trung vương. Từ
chối không nhận. Thản nhiên chịu chết, để cứu mười ba người sống. Chịu
chết, bắt Quang-Vũ ban tờ đại cáo, cho Lĩnh-Nam phục hồi. Công lao đứng
đầu Lĩnh-Nam. Sắc phong Bắc-Bình vương. Lĩnh chức đại tư mã. Thống lĩnh
toàn thể binh lực Lĩnh-Nam. Ăn lộc Cổ-Loa, Cổ-Đại, Cổ-Lễ. Trẫm hy vọng
sáu năm sau, anh hùng sẽ cử Đào-Kỳ làm hoàng đế thay trẫm. (Tương đương
với ngày nay là Tổng-tư lệnh quân đội).
Ba vị tạ ân, lĩnh mệnh.
Khúc-Giang Trần-tứ-Gia tâu:
– Xưa vua Hùng phong cho chín mươi chín con, ăn lộc chín mươi chín ấp,
đều lĩnh tước lạc hầu. Kịp đến khi An-Dương vương thắng vua Hùng, phong
có mười hai vị tước hầu. Cao tổ nhà Hán, thống nhất thiên hạ, chỉ phong
vương cho mình Hàn-Tín, sau cùng giáng xuống làm Hoài-Âm hầu. Quang-Vũ
tranh thiên hạ với Vương-Mãng chỉ phong cho Nghiêm-Sơn tước Lĩnh-Nam
công. Sau bất đắc dĩ phong là Lĩnh-Nam vương, rồi cũng tước bỏ. Lĩnh-Nam ta đất rộng người thưa, đã có sáu vị lạc vương, với sáu mươi chín tước
lạc công. Nay bệ hạ phong thêm nhiều vương, công nữa. E mầm nổi loạn
tranh dành xảy ra chăng?
Hoàng đế phán:
– Trần tiên sinh biết một mà không biết hai. Trong thiên hạ, hiện giờ,
chỉ Hán là mối lo ngại cho Lĩnh-Nam mà thôi. Phàm điều dở của nhà Hán,
ta phải tránh. Điều hay, ta phải học. Ta cần chỉnh đốn binh mã, khuyến
khích nông tang. Trong vòng năm năm, chúng ta hùng mạnh. Vĩnh viễn người Hán không dám gây sự với ta nữa.
Ngừng lại một lúc, ngài phán tiếp:
– Xưa vua Hùng, vua An-Dương không phong vương cho công thần, vì nước
nhỏ, dân ít. Nay nước Lĩnh-Nam lớn, dân số gấp mười hồi trước, thì quan
tước cũng phải gấp mười. Cao-tổ, Quang-Vũ nhờ sức anh hùng, mà được
thiên hạ. Song cả hai đều coi thiên hạ như của riêng mình. Không nghĩ
rằng thiên hạ sở dĩ được, do sức công thần. Cao-tổ, Quang-Vũ vô tài, bất đức, nghi ngờ mọi người. Vì vậy không phong chức tước cho công thần.
Ngài đứng dậy chỉ vào quần thần:
– Ta khác hẳn Lưu-Bang, Lưu-Tú. Ta được anh hùng các nơi suy cử lên. Họ
có yêu ta, có kính ta, có tin ta, mới cử ta. Một điều ta không sợ nổi
loạn. Nếu ta có lầm lỗi, sáu năm sau họ suy cử người khác. Hai điều ta
không sợ nổi loạn. Vì các anh hùng đều là sư bá, sư thúc, sư huynh, sư
đệ, sư muội của ta. Có điều gì bất như ý, họ nói thẳng ra, ta biết mà tự sửa. Họ có tức ta, có ghét ta, họ sẽ mắng ta, đánh ta. Chẳng bao giờ họ phải nổi loạn. Chúng ta dùng võ đạo cai trị dân, không ai tham công
danh. Ba điều ta không sợ nổi loạn... Còn tại sao ta phong vương, công,
nhiều? Các anh hùng đều có công. Nhiều người công nhiều hơn ta. Đừng nói phong vương, mà ta còn hy vọng lần sau, anh hùng suy cử họ làm hoàng đế thay ta nữa.
Trần-tứ-Gia bái phục:
– Thần không nhìn xa bằng bệ hạ.
Trưng hoàng Đế phán tiếp:
– Sư muội Nguyễn-phương-Dung, tài kiêm văn võ. Hùng tài, đại lược. Tài
dùng binh vô địch Trung-Nguyên, Lĩnh-Nam. Ta mời sư muội giữ chức tể
tướng, thay ta mưu hạnh phúc cho dân. (Tương đương với nhày nay là
Thủ-tướng).
Phương-Dung khẳng khái nhận lời. Nàng tâu:
– Còn sáu Thượng thư, mong sư tỷ... à quên Hoàng đế định đề cử ai?
Ngài phán:
– Ta để sư muội tự ý lựa chọn. Có như vậy mới hợp ý nhau, làm việc không bị bế tắc. À... ta quên chưa chúc mừng sư muội có cháu bé. Cháu tên gì?
Phương-Dung tâu:
– Cháu tên Đào-tử-Khâm. Hôm đại hội hồ Động-Đình, sư tỷ Chu-tường-Qui có gửi thư mừng. Trong thư dặn rằng nếu đẻ cháu trai, thì đặt tên là
Tử-Khâm. Còn đẻ cháu gái thì đặt tên là Tường-Qui. Tiểu muội tuân theo
ý, đặt tên con.
Hoàng đế mỉm cười:
– Người Hán, coi cái tên quan trọng đến độ, con cháu không được nhắc
đến. Như quần thần nhà Hán viết chữ, nói năng phải kiêng tiếng "Bang" là tên Cao tổ. Người Lĩnh-Nam mình lại không thế. Chúng ta dùng tên gọi
nhau cho thân thiện. Ta không muốn gọi sư muội là tể tướng hay Đào vương phi. Ta thích gọi là Phương-Dung. Sư muội cứ gọi ta bằng tiếng sư tỷ
Trưng-Trắc nghe ấm áp hơn "Hoàng đế bệ hạ" nhiều.
Ngài vẫy tay gọi Nguyễn-Thánh-Thiên:
– Sư muội! Trong chị em ta. Người có tài dùng binh nhất phải kể
Phương-Dung, Trưng-Nhị, Vĩnh-Hoa. Song họ trở thành quân sư đại tài. Chỉ có sư muội, dùng làm tướng văn, tướng võ, quân sư, đều được cả. Ta làm
chị giữ ngôi hoàng đế. Sư muội làm em, ta phong sư muội làm Thánh-Thiên
công chúa, ăn lộc vùng Ký-hợp. Sư muội lĩnh chức Bình-Ngô đại tướng
quân. thống lĩnh binh mã Lĩnh-Nam trấn giữ vùng Nam-Hải. Ta tin với tài
sư muội, thì Mã-Viện, Lưu-Long, Đoàn-Chí không xâm phạm Lĩnh-Nam mình.
(Tương đương với ngày nay là Tư-lệnh quân khu, kiêm Tư-lệnh biên phòng).
Ngài lại gọi Hồ-Đề:
– Bàn về công lao với Lĩnh-Nam, sư muội đáng đứng đầu. Võ công sư muội
không cao. Tài dùng binh không giỏi. Song sư muội giỏi lãnh đạo. Sư muội lại nhiệt thành với đất n