ấy tiếng ngoao ngoáo của một con mèo, không
phải là Angelina. Tiếng con mèo gào rõ ràng chẳng theo một giọng nào,
nhưng xem chừng lại có nhịp điệu. Nửa bực mình, nửa hiếu kỳ, ông ta bước ra ngoài sân thượng rồi phải dụi mắt để tin vào những điều mình đang
nhìn thấy.
Angelina đang lấy hai chân trước bịt tai
lại, trước mặt cô nàng là một con mèo mun, to đùng, mập ú đang ngồi lên
hai cẳng chân sau, dựa mình vào một chậu hoa. Nó lấy một chân trước nắm
lấy đuôi như thể đó là cái cần đàn guitar bass, còn chân kia thì đang
giả vờ gẩy đàn tưng tửng trong khi vẫn gào lên ngoeo ngoéo không ngừng.
Khi đã hết ngạc nhiên, con người không thể nào nhịn được cười, và khi ông
ta phải cúi gập về phía trước, ôm lấy bụng vì cười dữ quá, Zorba chớp
lấy cơ hội để trườn nhanh vào trong nhà.
Khi còn đang
mềm oặt cả người ra vì cười, người đó trở vào trong, ông nhìn thấy con
mèo đen, to đùng, mập ú ngồi thù lù trên ghế.
“Thật là một buổi diễn
ra trò! Mày đúng là một gã Don Juan ngon lành, nhưng ta e là Angelina
không ưa nhạc của mày cho lắm. Một màn trình diễn hết sẩy đấy!” Người đó nói.
“Tôi biết tôi là một ca sĩ dở ẹc. Không ai hoàn hảo cả,” Zorba đáp lại bằng ngôn ngữ của loài người.
Con người há hốc miệng, đập một tay lên đầu rồi ngã dựa vào tường.
“Mày.. mày… đang nói,” ông thốt lên.
“Ông cũng đang nói đấy thôi và tôi chẳng ngạc nhiên gì cả. Vui lòng bình tĩnh lại đi nào,” Zorba nói.
“Một… một con mèo… nó nói!” Giờ thì con người ngã vật xuống ghế bành.
“Tôi không nói, tôi chỉ kêu meo meo thôi, nhưng bằng ngôn ngữ của các ông. Tôi biết cách meo bằng nhiều ngôn ngữ,” Zorba đáp.
Con người đó lấy tay che mắt và nhắc đi nhắc lại, “Mình chỉ đang mệt quá
thôi. Mình chỉ đang mệt quá thôi.” Khi ông ta bỏ tay ra, con mèo đen, to đùng, mập ú vẫn đang ngồi chình ình trên ghế.
“Tao đang bị ảo giác. Mày chỉ là một ảo giác thôi đúng không?” Con người đó hỏi.
“Không, tôi là một con mèo bằng xương bằng thịt đang ngồi đây trò chuyện với
ông,” Zorba khẳng định với ông ta. “Cộng đồng mèo ở cảng đã chọn ông, từ rất nhiều con người để phó thác một vấn đề rất lớn. Chúng tôi hy vọng
ông sẽ giúp đỡ. Ông không bị khùng đâu. Tôi có thật.”
“Anh bạn bảo anh có thể nói được nhiều ngôn ngữ?” Con người hỏi, vẫn còn nghi hoặc.
“Tôi cho rằng ông cần minh chứng. Tốt thôi, cứ việc thử tôi.”
“Buon giorno,” con người nói.
“Bây giờ đã là cuối ngày rồi. Nói Buon Sera thì tốt hơn,” Zorba chỉnh lại.
“Kalimera,” con người đó nhấn giọng bằng tiếng Hy Lạp.
“Kalispera, tôi đã bảo ông là bây giờ muộn rồi mà,” Zorba đính chính lần thứ hai.
“Dobroye utro!” Con người đó gào lên bằng tiếng Nga.
“Dobry den. Giờ thì ông tin tôi chưa?” Zorba hỏi.
“Rồi. Và kể cả nếu đây là một giấc mơ thì đã sao? Ta thích nó và muốn tiếp tục mơ,” con người trả lời.
“Tốt, giờ chúng ta vào việc thôi,” Zorba đề nghị.
Con người gật đầu, nhưng ông ta muốn Zorba phải tôn trọng những nghi thức
giao tiếp của loài người. Ông ta thết Zorba một liễn sữa, rồi ông ngồi
xuốn ghế bành với một ly cô-nhắc trong tay. “Nói đi, anh bạn mèo,” con
người đó bảo, và Zorba liền kể lại cho ông ta nghe câu chuyện về cô hải
âu hấp hối, quả trứng, Lucky bé bỏng, và những nỗ lực vô vọng của bọn
mèo để dạy cho nó bay.
“Ông có thể giúp chúng tôi được không?” Zorba hỏi khi kết thúc câu chuyện của loài mèo.
“Ta nghĩ là ta có thể. Ngay chính đêm nay,” con người đó đáp lại.
“Ngay chính đêm nay. Ông chắc chứ?”
“Nhìn ra cửa sổ xem, anh mèo. Hãy ngước nhìn bầu trời. Anh thấy gì nào?” Con người đó hỏi.
“Mây. Mây đen. Một cơn bão đang tới, trời sắp mưa rồi,” Zorba quan sát.
“Phải, vì thế mà chính là đêm nay đấy,” con người nói.
“Tôi không hiểu. Xin lỗi ông, nhưng tôi chưa hiểu”
Con người đó tiến tới bàn, nhặt lên một cuốn sách rồi lần tìm qua các trang. “Nghe này, anh mèo.
Tôi sẽ đọc cho anh nghe một tác phẩm của nhà thơ có tên Bernardo Atxaga.
Một vài dòng trong bài thơ có tựa đề là “Những con hải âu”
“Nhưng những trái tim nhỏ bé
Những trái tim của thần bay lượn
Không khao khát gì hơn
Những cơn mưa hoang dại
Những cơn mưa mang lại luồng gió thổi
Những cơn mưa mang lại ánh mặt trời”
Cơn mưa lớn đổ ập xuống Hamburg, từ những khu vườn, mùi đất ẩm ướt
sực lên. Mặt đường trải nhựa lấp lóa sáng, và những bóng đèn neon phản
chiếu nhập nhòe trên những vỉa hè ướt. Một người đàn ông rảo bước trên
con phố hoang vắng về phía Hiệu tạp hóa Bến cảng Harry.
“Không đời
nào!” Con đười ươi rít lên. “Kể cả chúng mày có ngoáy năm mươi cái móng
vào lỗ dom tao, tao cũng không mở cửa cho chúng mày đâu!”
“Nhưng không ai muốn đánh anh cả. Chúng tôi chỉ muốn anh giúp đỡ,” Zorba nài nỉ.
“Giờ bọn tao mở cửa là từ chín giờ sáng tới sáu giờ tối. Đó là quy định, và nó phải được t