hìn thẳng vào anh. “Trong trường hợp đó, em thấy mình rất sẵn lòng để giúp anh truy lùng lai lịch bức tranh bí ẩn kia”.
Bà Watts đã chết được một phần tư thế kỷ. Vere cho rằng anh quá may mắn khi tìm được người đã từng biết bà ta, chỉ trong vài giờ.
Cuộc tìm kiếm đưa anh từ Bermondsey đến Seven Dials. Chỉ cách những dinh thự hoành tráng của Mayfair một dặm, Seven Dials từng nổi tiếng vì tội phạm và nghèo đói trong suốt những năm đầu thế kỷ. Gần đây, tình trạng của Seven Dials đã được cải thiện nhiều, mặc dù Vere vẫn không thích phiêu lưu trên những đường phố của nó vào ban đêm.
Nhưng bây giờ đang là thanh thiên bạch nhật. Ngõ St.Martin dẫn vào khu này đang láo nháo bởi lũ chim, những người chơi chim của London hay tụ tập ở đây. Anh đi qua một cửa hàng đầy rẫy những con chim hót ở trong lồng: chim sẻ ức đỏ, chim chiền chiện, và chim sáo đá, tất cả đều đang chiêm chiếp và líu lo một cách náo động. Một cửa hàng khác lại bày đầy những lồng chim bồ câu béo đang kêu gù gù. Diều hâu, cú và vẹt rống lên những tiếng chói tai. Anh thấy dễ chịu khi đi đến một khu vực chuyên bày bán những sinh vật ở dưới nước và thỏ, cả hai đều im lặng một cách đáng mừng.
Jacob Dooley sống ở phố Little Earl. Trên phố những đám đông háo hức dạo quanh khu chợ ngoài trời đông đúc, mặc dù Vere nhận ra chẳng có thứ đồ nào được bày bán mà không phải là hàng đã sử dụng lần thứ hai hoặc thứ ba. Anh không biết phụ nữ có thể làm gì với một bộ vòng làm phồng váy, nhưng anh nhìn thấy không phải một, không phải hai, mà là ba nơi quảng cáo, đó là “Đỉnh cao của thời trang!”
Căn hộ của Dooley nằm ở tầng trên cùng của một tòa nhà bốn tầng. Mặt trước tòa nhà là những dòng quảng cáo của hàng tạp phẩm dưới tầng ngầm được viết bằng những chữ cái lớn – Trang trại sữa, cửa hàng thịt Gia đình, Nhà thầu cung cấp Sữa, Cung cấp số lượng lớn. Cầu thang hẹp, tối bên trong bốc mùi nước tiểu nồng nặc.
Vere gõ cửa, một người đàn ông khoảng sáu mươi lăm tuổi, to lớn, râu rậm, tóc và hàng râu quai nón màu muối tiêu xuất hiện. Ông ta đứng sau cánh cửa hé mở, lo lắng săm soi Vere. Vere đã thay trang phục. Bây giờ anh là một tên đánh xe bò lực lưỡng với một hàng râu quai nón xum xuê sánh ngang với râu của Dooley. Bộ quần áo lao động thô ráp bốc mùi đúng như chúng phải thế: mùi của ngựa và bia, nồng nặc như nhau.
“Cậu là ai? Tại sao cậu lại hỏi về bà Watts?” xuất thân Ai-len của Dooley bộc lộ rõ ràng trong giọng nói.
Vere trả lời bằng giọng điệu của vùng Liverpool. “Bà Watts là dì của cha tôi. Mẹ tôi nói với tôi như thế. Cha tôi bỏ đến London để sống với bà Watts.”
Mắt Dooley mở lớn. “Nhưng Ned vẫn còn là một cậu bé khi cậu ta đến sống với bà ấy, chắc chắn thế. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cậu ta. Nhưng bà Watts nói rằng cậu ta mới mười bốn tuổi khi đến và bỏ đi khi mười sáu tuổi”.
“À, ông ấy có tôi trước khi rời khỏi Liverpool. Ít nhất ông ấy khiến mẹ tôi nghĩ thế.”
Dooley lùi lại. “Thế thì vào đi. Tôi sẽ mời cậu một tách trà”.
Căn hộ chỉ có một phòng, một tấm rèm vàng mỏng treo ở giữa để ngăn cách chỗ tiếp khách và nơi ngủ. Dooley có một chiếc bàn có vẻ nặng nề đến ngạc nhiên, hai chiếc ghế, và một giá sách tự làm với những chồng báo gọn gàng và hai cuốn sách lớn, một trông như Kinh thánh, cuốn còn lại có lẽ là sách cầu nguyện.
Dooley rót nước từ một cái bình vào ấm và bỏ thêm vào đó một nắm lá trà, rồi móc cái ấm đun nước đó lên trên một chiếc đèn cồn. “Cậu vẫn ở với mẹ cậu?”
“Mẹ tôi mất hồi tháng Mười hai năm ngoái. Trước khi chết bà nói với tôi về người cha ruột. Tôi đã hỏi thăm về ông ấy sau khi chôn cất mẹ mình”.
“Cậu may mắn đây, chàng trai”, Dooley nói trong lúc đứng cạnh chiếc đèn cồn. “Theo như lần cuối cùng tôi nghe được, cậu ta đã trở thành một người giàu có ở Nam Phi. Kim cương”.
Vere ngừng thở vài giây. Anh nhìn Dooley với cặp mắt đầy hy vọng. “Ông không đùa cợt tôi đấy chứ, ông Dooley?”
“Không. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Maggie, bà Watts của anh, bà ấy vừa nhận được một bức điện từ cậu ta. Cậu ta đã trở nên giàu sụ và đang trở về nhà để biến bà ấy thành một quý bà sang trọng. Những mong cậu biết rằng, tuy tôi mừng cho bà ấy, nhưng tôi cũng vô cùng thương tiếc cho bản thân mình. Tôi đang mong bà ấy kết hôn với tôi. Bà ấy hơn tôi vài tuổi nhưng là một người đàn bà tốt, Maggie Watts, và hát rất hay, thật đó. Nhưng bà ấy sẽ không muốn lấy một thủy thủ nghèo như tôi khi cháu trai bà ấy chuẩn bị xây một lâu đài tráng lệ ở vùng quê và đưa bà ấy đến diện kiến nữ hoàng, đúng không? Tôi bỏ đi đến San Francisco trên một chiếc tàu chạy bằng hơi nước. Và khi tôi trở lại…”, cằm Dooley bạnh ra. “Khi tôi trở lại, bà ấy đã ở trong lòng đất rồi”.
“Tôi rất lấy làm tiếc”. Vere không cần phải giả vờ thông cảm. Anh biết quá rõ, nỗi đau và sự hoang mang của mất mát.
Dooley không trả lời mà đặt hai chiếc tách xuống, chiếc không bị mẻ cho Vere, và cắt nửa ổ bánh mì đen. Mặc dù lá trà đã được đun với nước, nhưng trà Dooley rót ra khó có thể sẫm màu hơn nước chanh – giống như mọi thứ bán ở phố bên dưới, lá trà cũng là đồ đã dùng rồi.
“Cám ơn ông”, Vere nói và đón l