ơ một giấc mơ dài lắm
đấy…”
Nhưng mỗi lần, chỉ cần quay đầu sang, tôi đều có thể nhìn
thấy cái vết sẹo nhói lòng kia trên mặt Đường Uyển Như. Nó đang cười
nhạo tôi, nó đang cảnh tỉnh tôi, nó đang giày vò tôi trong tiếng bước
chân của thời gian.
Vết sẹo ấy giống như một con quái vật ẩn náu
trong tim, nó khiến tính cách của Đường Uyển Như thay đổi rất nhiều. Nó
không còn như trước đây nữa, không còn là một con hải ly bị người ta cột pháo sau đuôi, lúc này nó đã biến thành một con chim cánh cụt đứng đơn
độc bất động trên cánh đồng tuyết, không biết đang trông ngóng những gì. Trong ánh mắt nó đã có thêm rất nhiều thứ trước đây không hề tồn tại,
có lẽ là thù hận, có lẽ là đau đớn, có lẽ là hụt hẫng, có lẽ là ngỡ
ngàng, có lẽ là nghi hoặc, đủ thứ cảm xúc đã hòa tan vào trong đôi mắt
nó.
Đôi khi tôi cảm thấy đó không phải là mắt của nó nữa, đó là đôi mắt của Nam Tương.
Có một hôm khi tôi và nó đang tung tăng dạo phố, đi vào sân giữa của một
tòa nhà ở trấn Mai Long, vừa hay gặp cuộc triển lãm tác phẩm nghệ thuật
tranh sơn thủy cổ đại Trung Quốc. Thực tình tôi không hiểu lắm về nghệ
thuật cổ điển Trung Quốc, nếu là Nam Tương, nó chắc chắn sẽ hiểu như đếm đồ trong nhà. Từ Cố Khải Chi, Diêm Lập Bản của các đời Phổ, Tùy, Đường
đến Trương Trạch Đoan, Mã Lân của đời Tống, từ tượng người cung đình đến tranh thủy mặc vẽ bằng phương pháp vẩy mực, từ tĩnh vật tả ý đến tranh
hoa lá chim chóc vẽ bằng thủ pháp tỉ mỉ, nó đều có thể thuyết giảng vanh vách bên tai bạn giống như một nữ sĩ vượt thời gian.
Tôi không
phải nó, nên vừa xem một lát đã chẳng còn hứng thú nữa, đang định gọi
Đường Uyển Như đi, thì phát hiện nó đã ngây dại đứng trước một bức tranh rất lâu. Tôi bước qua, vừa định nói, đã thấy đôi mắt nó đỏ lên, nước
mắt ầng ậng nơi khóe mắt, gần như chỉ chực trào ra. Đôi vai nó run lên
bần bật, thi thoảng phát ra tiếng thở trầm đục, nó nhìn chằm chằm bức
họa trước mặt, hai tay siết chặt gấu áo.
Tôi nhìn theo ánh mắt
của nó, trên bức họa trước mặt, một cô gái cổ đại đang cầm quạt, đứng cô đơn trong cảnh lá rụng đìu hiu, cô gái trong tranh dùng quạt che đi nửa dưới khuôn mặt.
Chỗ trống phía trên góc phải bức tranh, có một hàng chữ hành thảo bằng bút lông rất đẹp:
Người đời mê cảnh tiên bồng, mấy ai yêu cảnh hồng trần bên ta.
Lại qua một thời gian nữa, thông tin báo lại cho biết Vệ Hải đã rời Thượng
Hải, đi Bắc Kinh. Khi Đường Uyển Như nhận được thư của Vệ Hải gửi về,
anh ta đã ở Bắc Kinh. Ngoài Đường Uyển Như, anh ta chẳng hề nói cho bất
cứ người nào trong nhóm chúng tôi biết thông tin anh ta rời đi.
Anh ta chẳng nói cho Cố Nguyên biết.
Anh ta không muốn nói cho Nam Tương biết.
Anh ta chẳng cần phải nói cho tôi và Cố Ly biết.
Anh ta vốn dĩ chỉ là một phần thừa trong cuộc sống của chúng tôi, về điểm
này, tôi nghĩ không chỉ riêng chúng tôi trơ tráo cho là vậy, mà ngay cả
bản thân anh ta, cũng đồng tình một cách hèn kém như thế.
Nhưng
lúc này đây, cho dù sự ra đi của anh ta, đối với tôi và Cố Ly mà nói,
cũng trở nên trĩu nặng khác thường. Trong bầu không khí tựa ngày tận thế này, sự ra đi của bất cứ ai cũng đều có thể biến thành cọng cỏ khô cuối cùng đè chết con lạc đà.
Uyển Như chào em, về việc không từ mà
biệt của anh, anh cảm thấy vô cùng có lỗi. Nhưng anh cũng không biết
phải tiếp tục cuộc sống ở Thượng Hải như thế nào nữa? Cảm giác giống như ngày tận thế vậy, bạn bè, người yêu đều rời bỏ anh mà đi. Trong những
ngày tháng sau khi sự việc xảy ra, anh chẳng tài nào ngủ được, cảm giác
trong lồng ngực luôn có một tảng đá lớn đang đè nặng. Nhưng anh biết,
anh chẳng có tư cách gì để nói như vậy, vì người khó chịu nhất phải là
em. Em có một vạn lý do để hận anh, vì nếu không phải là anh, có lẽ sẽ
không xảy ra những chuyện không may đối với em như vậy. Anh văn vẻ không hay, không biết phải làm thế nào để biểu đạt sự áy náy của mình. Chân
thành hy vọng em thứ lỗi cho anh.
…
Thực ra từ đó đến nay, anh luôn hâm mộ cuộc sống nhóm của các em, sôi nổi sống động mà lại
ngoạn mục, cảm giác giống như câu chuyện trong phim vậy. Nhưng khi Nam
Tương dẫn anh thực sự bước vào trong thế giới của các em, anh mới nhận
ra rằng thì ra các em không phải đang dạo chơi thỏa thích trong một vườn hoa tươi đẹp, mà là đang ở trong một vòng xoáy cực lớn. Cảm giác này
ngày càng mãnh liệt, thực ra nếu phải nói thật, thì hơn một năm nay, anh đã sống trong một áp lực vô cùng lớn. Anh cảm thấy Nam Tương không
thuộc về anh, anh cũng không thuộc về thế giới của các em.
…
Bắc Kinh vào thu từ rất sớm, thời tiết rất lạnh. Anh vừa đến đây, chỉ mặc
áo mỏng. Nên đã bị cảm lạnh. Nhưng đừng lo lắng, anh đã bảo người nhà
gửi áo ấm đến rồi. Cuộc sống ở đây cũng ổn định. Anh đã tìm được một
công việc, làm huấn luyện viên cầu lông cho những người yêu cầu lông
nghiệp dư trong câu lạc bộ. Cuộc sống không khác mấy so với hồi đại học, thu nhập cũng không đến nỗi. Chỉ có điều thỉnh thoảng cô đơn, chẳng tìm được ai tâm sự
