Disneyland 1972 Love the old s
Tình Sử Bi Thương Của Một Nàng Phượng Hoàng

Tình Sử Bi Thương Của Một Nàng Phượng Hoàng

Tác giả: Đang cập nhật

Thể loại: Truyện ngôn tình

Lượt xem: 324595

Bình chọn: 7.5.00/10/459 lượt.

Quốc, là một trong Tam Thanh, tôn hiệu là Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, thường được đồng nhất với Lão Tử. Thái Thượng Lão Quân ở tại cung Đâu Suất trên tầng trời thứ 33, thường luyện các loại tiên đơn thánh thủy để trường sinh bất tử.

(3) Nhị Lang Chân Quân: hay Quán Giang Khẩu Hiển Thánh Nhị Lang Chân Quân, Nhị Lang Hiển Thánh Chân Quân, Thanh Nguyên Diệu Chân Quân, Chiêu Huệ Hiển Thánh Nhân Hữu Vương; là một nhân vật trong thần thoại Trung Quốc, và là một vị thần trong tôn giáo truyền thống Trung Quốc là Đạo giáo và Phật giáo. Tên thật là Dương Tiễn, là con trai thứ hai của Dương Thiên Hựu và Dao Cơ Tiên tử (em gái của Ngọc Hoàng), anh trai cả là Dương Giao, em gái là Dương Thiền (hay còn gọi là Dương Liên tức Tam thánh mẫu), thê tử là Tam công chúa Tây Hải (sau này đã ly hôn), sư phụ là Ngọc Đỉnh Chân nhân. Sử dụng Tam Tiên Đao (do giao long ba đầu hóa thành). Đệ tử trung thành là Hạo Thiên Khuyển.

(4) Dương Tiễn: xem (3).

(5) Lưu Đức Hoa: sinh ngày 27/ 09/ 1961, là diễn viên/ ca sĩ quốc tịch Hồng Kông, còn gọi là Andy Lau, rất nổi tiếng ở Hồng Kông và Trung Quốc đại lục trong thập niên 1990s.

(6) Nhậm Đạt Hoa: sinh ngày 19/03/1955, là ảnh đế, tài tử điện ảnh Hồng Kông, còn gọi là Simon Yam.

(7) Lập Uy Liêm: sinh ngày 30/07/1976, là diễn viên/ ca sĩ quốc tịch Singapore, còn gọi là Leon Jay Williams.

(8) Tạ Đình Phong: sinh ngày 29/08/1980, là diễn viên/ ca sĩ/ nhạc sĩ/ đạo diễn… người Hồng Kông, quốc tịch Canada, còn gọi là Nicholas Tse.

(9) Hàn Hàn: sinh ngày 23/09/1982, là một vận động viên lái xe đua chuyên nghiệp người Trung Quốc, là tác giả/ ca sĩ có đĩa hát bán chạy nhất, có tham gia sản xuất âm nhạc, đồng thời là blogger nổi tiếng nhất ở Trung Quốc.

(10) Nguyên Thủy Thiên Tôn: là một vị thần tiên tối cao trong Đạo giáo Trung Quốc, đứng đầu trong Tam Thanh, tôn hiệu là Ngọc Thanh, là thần của các thần, ngụ tại cung Tử Hư thuộc Thánh Cảnh trên tầng trời Đại La.

(11) Sứ giả: nguyên văn là “thanh điểu” – chim xanh, là sứ giả của Tây Vương Mẫu.

(12) Đại ẩn ẩn vu triêu, trung ẩn ẩn vu thị, tiểu ẩn ẩn vu lâm: nơi ẩn thân tốt nhất là giữa triều đình, thứ nhì là giữa thành thị, cuối cùng là ẩn thân nơi rừng rậm.

(13) Thôi Oanh Oanh và Trương Sinh: nhân vật chính trong vở tạp kịch “Tây Sương Ký” của Vương Thực Phủ trong khoảng những năm Đại Đức thời Nguyên Thành Tông. Vở kịch miêu tả về cuộc tình duyên vượt qua môn đăng hộ đối và lễ nghi phong kiến của Tôn Oanh Oanh, một tiểu thư xinh đẹp, con gái của một vị tướng quốc cùng với thư sinh nghèo Trương Quân Thụy.

(14) Thần Nông: hay còn gọi là Viêm Đế/ Ngũ Cốc Tiên Đế, là một vị vua huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, là một trong Tam Hoàng. Theo truyền thuyết, Thần Nông là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh.

(15) Hoàn Phượng: ở đây dùng tên đảo ngược của Phượng Hoàn (fèng huán - 凤寰) thành Hoàn Phượng (huán fēng -寰妦), chỉ đảo ngược trong cách nói chứ không phải trong cách viết.

(16) Trích bài “Ngu mỹ nhân kì nhất” của Nam Đường Hậu Chủ - Lý Dục, bản dịch của Nguyễn Thành n. Bản dịch Hán – Việt:

Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu

Vãn sự tri đa thiểu

Tiểu lâu tác dạ hựu đông phong

Cố quốc bất kham hồi thủ nguyệt minh trung

Điêu lan ngọc thế ưng do tại

Chỉ thị châu nhân cải

Vấn quân năng hữu đa sầu?

Kháp tự nhất giang xuân thủy hướng đông lưu.

Bản dịch thơ của Nguyễn Thành n:

Trăng thu rồi lại hoa xuân

Bao giờ sẽ hết hỏi chừng ai hay

Đêm qua lầu nhỏ gió lay

Việc qua có được bao người biết chăng?

Lòng nghe sao những bâng khuâng

Nước xưa ngoảnh lại dưới trăng bao lần

Còn nguyên bệ ngọc, thềm lan

Mà nay thay đổi dung nhan đã nhiều

Hỏi người sầu được bao nhiêu?

Sông xuân vẫn chảy một chiều về đông.

(17) Trích bài “Thiên tịnh sa - Thu tứ” của Mã Trí Viễn, bản dịch không rõ tác giả. Bản dịch Hán – Việt:

Khô đằng lão thụ hôn nha,

Tiểu kiều lưu thủy nhân gia,

Cổ đạo tây phong sấu mã.

Tịch dương tây hạ,

Đoạn trường nhân tại thiên nhai.

Bản dịch thơ:

Cây khô, cành cỗi, quạ chiều

Chiếc cầu nho nhỏ, nước reo bên nhà

Gió tây, đường cũ, ngựa già

Chiều buông, ruột đứt, người xa góc trời.

(18) Lối viết thảo: hay thảo thư là một lối viết chữ trong thư pháp của Trung Hoa, là thư thể được viết nhanh nhất, bút pháp phóng khoáng. Có chữ Hán khi viết bình thường theo lối chữ khải (khải thư hay chính thư) thì phải viết rất nhiều nét nhưng với thảo thư thì có thể viết bằng một nét, ví dụ như cuồng thảo (chữ thảo viết điên cuồng) của Hoài Tố (khoảng năm 730 – 780).

(19) Trích bài Du Sơn Tây thôn (đến chơi thôn Sơn Tây) của Lục Du.

Bản Hán – Việt:

Mạc tiếu nông gia lạp tửu hồn,

Phong niên lưu khách túc kê đồn.

Sơn trùng thuỷ phúc nghi vô lộ,

Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.

Tiêu cổ truy tuỳ xuân xã cận,

Y quan giản phác cổ phong tồn.

Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt,

Trụ trượng vô thì dạ khấu môn.

Bả