yện hiệu trưởng ở trường cũ tới đọc điếu văn ở lễ truy điệu của người chết, chẳng biết ông ấy từ đâu tới
nữa, ha ha ha, em đang chờ tới phần cuối để xem ông ấy có sướt mướt khen tặng gương người tốt việc tốt không, hóa ra lại đúng y chóc luôn…”.
Từ Văn Diệu bật cười: “Mẹ kiếp thật! Ông ta chẳng nhớ nổi người chết đó là ai, còn bảo thầy ấy là tận tụy giỏi giang, đào lý[2'> khắp thiên hạ. Vớ
vẩn! Thầy ấy là giáo viên ở trường chưa đến ba năm, còn là thầy giáo
sinh vật. Đào lý ở đâu ra?”.
[2'> Trong nguyên tác, chữ [táolǐ'> (đào mận) có ý chỉ học sinh.
“Ở đây chẳng phải có sẵn một trái đào thật lớn sao?”. Vương Tranh xoa đầu
anh. “Văn Diệu này, em thấy đầu anh vừa tròn vừa to, nếu cạo trọc đi,
nhìn giống trái đào lắm đấy!”.
“Này này, sờ cái gì mà sờ, chẳng
biết lớn nhỏ gì hết!”. Từ Văn Diệu trở tay kéo Vương Tranh ôm vào lòng,
ôm thật chặt, vùi mặt vào hõm cổ người yêu hôn hít một trận rồi nói:
“Lại còn đám thân thích và hàng xóm láng giềng kia nữa, anh vẫn chưa
tính sổ với họ vậy mà đã mò tới đây kêu khóc rồi. Khóc tang cũng phải có chút kỹ thuật chứ, tất cả mấy người tay ngang đó đều xem anh là thằng
xem tiền như rác chắc!”.
Vương Tranh chợt nhớ tới trận biểu diễn gào khóc kia mà rùng mình bật cười thành tiếng.
Từ Văn Diệu cũng phì cười, nhìn ra phía xa xa, đột nhiên yếu ớt mà thở
dài, nói: “Tiểu Tranh, em nói xem, anh ngang nhiên dời mộ của thầy đi
như vậy, liệu thầy có vui không?”.
Vương Tranh tựa vào lòng anh, khẽ nhắm mắt lại: “Em cũng không biết nữa”.
“Thật ra anh không phải muốn làm cái gì đó, đơn giản anh chỉ muốn cho thầy
một lễ tang trang trọng, đàng hoàng. Hoặc nên nói, anh không thể chấp
nhận nổi chuyện mọi người đã quên đi người mà anh luôn ghi nhớ trong
lòng”.
Vương Tranh thở dài, vươn tay xoa hai má của anh, thì thầm: “Anh còn nhớ hôm Tiểu Huyên qua đời không?”.
Từ Văn Diệu gật đầu.
“Hôm đó, em ngỡ như bầu trời đã sụp đổ dưới chân rồi. Em cứ luôn suy nghĩ,
phải tìm cách đặc biệt để nói lời chia tay với cô ấy theo phương thức
chỉ hai đứa bọn em biết với nhau thôi. Cách mà cô ấy biết và em cũng có
thể biết. Sau đó bọn em sẽ nói tạm biệt nhau thật dịu dàng, sẽ lưu giữ
lại những ký ức tốt đẹp nhất có liên quan đến đối phương”. Vương Tranh
quay đầu lại nhìn anh, khẽ cười, nói: “Thầy của anh… chắc chắn là anh
luôn nhớ về thầy ấy với những hồi ức xinh đẹp nhất, phải không? Anh kể
cho em nghe đi”.
Từ Văn Diệu có chút sửng sốt, im lặng một lúc
rồi nuốt nước bọt, nói: “Nhiều năm như vậy, những khi nghĩ về thầy, anh
chỉ nhớ tới đoạn quá khứ cuối cùng, như trong nhà giam, trong nhà hỏa
thiêu… chẳng có gì tốt đẹp hết”.
Vương Tranh gật đầu, không nói, chỉ dịu dàng vuốt ve dái tai anh. Động tác này không có ý nghĩa gì đặc
biệt, những lúc hai người ở bên nhau cậu vẫn thường làm như thế, dùng
ngón trỏ và ngón cái mân mê dái tai anh. Cảm nhận cảm giác khi ngón tay
chạm tới lớp lông tơ mịn như nhung, sau đó ôm ấp hết cả dái tai, rất mềm mại, hơi lành lạnh rồi nó sẽ dần trở nên ấm áp hơn trong tay cậu.
Từ Văn Diệu khẽ nheo mắt, trầm ngâm rất lâu, hồi tưởng về những chuyện xưa cũ, tựa như lạc chân quay về băng nguyên hoang vu lạnh giá nọ, vượt qua cả bề mặt thời gian để rồi không biết cuối cùng sẽ đến nơi đâu.
“Anh còn nhớ”. Giọng nói khản đặc của Từ Văn Diệu chậm rãi vang lên: “Anh
còn nhớ, chỉ là hơi hơi nhớ, chẳng biết liệu có đúng hay không”.
“Anh cứ nói đi”.
“Lúc đó, thầy thích xài loại xà phòng chưa đến hai tệ một cục, màu xanh lục, hình bầu dục, mùi thơm tựa như mùi hoa nhài. Thầy đặt xà phòng trong
cái bát sứ mẻ ở bên phía song cửa sổ, nhà không có máy giặt, nên cứ cách hai ngày thầy lại lấy cục xà phòng đó để giặt quần áo”.
“Sau đó thì sao?”.
“Quần áo giặt xong đều có mùi thơm của xà phòng, khi phơi dưới ánh nắng sẽ
dậy lên mùi thơm khô ráo dễ chịu. Anh nghĩ, chính điều đó đã mang đến
cho anh khái niệm về sự sạch sẽ. Bắt đầu từ đó, khái niệm sạch sẽ của
anh luôn đi liền với khuynh hướng cảm xúc như: ấm áp, đượm mùi nắng và
thoang thoảng hương nhài. Nhưng kỳ quái, từ đó về sau anh không tìm được loại xà phòng có mùi thơm đó, tên hiệu là gì anh cũng không nhớ nữa. Có thể bây giờ nó không còn được sản xuất nữa…”.
Vương Tranh càng dựa sát hơn vào lòng anh.
“Còn nữa, thầy rất lạ lùng, rất là tiết kiệm, không biết tại sao… Thầy luôn
nghĩ rằng thằng oắt con học sinh trung học như anh cả ngày chẳng được ăn no. Vì vậy, mỗi khi anh tới nhà, thầy đều bổ sung chất dinh dưỡng cho
anh. Có khi là trứng luộc, lúc lại là cá hấp, hôm thì gà ta. Anh biết
thường ngày thầy không bao giờ ăn những món đó, thầy quen để dành tiền,
ngay cả cái khăn mặt dùng tới mức mấy góc xù lông cả rồi cũng không dám
đổi cái mới. Thầy có phẩm hạnh hết sức mộc mạc của một nhà giáo, em cũng biết cái đó phải không? Thầy từng nói, đúng rồi, anh nhớ ra rồi, đúng
là thầy có nói về việc này, Một khi đã đứng trên bục giảng thì phải có
trách nhiệm của người làm thầy”. Từ Văn Diệu cười khẽ, lắc đầu nói: “Cái từ ‘ý thức trách nhiệm’ thật đáng cười biết bao! Đến cả đứa trẻ chỉ mới mười bốn tuổi như a