o cô rồi đấy sao?”, Thẩm Thác Trai hừ một tiếng.
“Đấy là
một giang hồ lang trung, tôi không tin tưởng vào tay nghề của hắn lắm.”
“Quay
về đi.”
“Lão
tiên sinh, người có ý gì?”
“Ta
không thể làm tốt hơn hắn được... Cô gặp cao nhân rồi.”
“Chí ít
người cũng kê cho thang thuốc giảm đau...”, Tô Phong Nghi ở bên cạnh bổ sung
một câu.
“Bây
giờ không thể tuỳ tiện giảm đau, nếu không chỗ sưng sẽ càng tiêu đi chậm hơn.”
“Nhưng
mà...”
“Không
tiễn”, Thẩm Thác Trai hắng giọng gọi: “Người kế tiếp!”.
Hai
người có chút bối rối đứng dậy, đang định ra khỏi cửa, Thẩm Thác Trai đột nhiên
gọi: “Đợi đã”, nói rồi đi vào thư phòng, cầm ra bốn cuốn sách đặt vào tay Tô
Phong Nghi, hỏi: “Lang trung đó họ gì?”.
“Họ
Diêu.”
“Đây là
sách ta viết, muốn nhờ vị ấy chỉ giáo cho.”
“Oa.”
Hai
người cúi đầu ủ rũ trèo lên xe, Quách Khuynh Quỳ ở trên xe, hỏi: “Đại phu nói
sao?”.
“Chẳng
nói gì, chỉ bảo chúng ta quay về.”
“Thế là
hai người rốt cuộc cũng tin rồi chứ?”
“Tin
cái gì?”
“Chỉ
cần có Tử Hân thì không cần thiết phải đi tìm đại phu khác.”
Hai
người đồng thời gật đầu, trong lòng đều thấy xấu hổ.
Xe ngựa
vững vàng lăn bánh về phía trước, ra khỏi con ngõ hẹp, đi vào phố lớn. Ra khỏi
phố, xe đi vào một con đường rừng.
Đi qua
khu rừng, lại vòng qua mấy khúc đường thì tới Dụ Long khách điếm.
Dọc
đường, Thẩm Khinh Thiền lăm lăm kiếm trong tay, cực kỳ căng thẳng.
Lúc sắp
vào khu rừng, nàng bỗng nhắm mắt lại, ngưng thần lắng nghe động tĩnh xung
quanh.
Tô
Phong Nghi đang định mở miệng, đột nhiên nghe “viu viu” hai tiếng, hai mũi tên
đã ghim vào nóc xe. Xe ngựa chợt phóng vụt đi, bụi mù cuộn tung, cây dọc hai
bên đường không ngừng lùi lại phía sau, tiếp đến thân xe rung lắc, “phốc” một
tiếng, không biết từ đâu phóng tới một loạt ám khí đánh vỡ đầu ngựa, xe ngựa
đột nhiên xóc mạnh bật lên rồi rồi từ từ dừng lại.
Lúc
Đường Hành tỉnh dậy, ánh dương đang rọi vào một cái mạng nhện lớn giữa xà ngang
trên trần. Vừa mở mắt đã nhìn thấy trên bức tường trắng như tuyết có thêm bóng
một con nhện to như cái đèn lồng, không khỏi thót tim, hẳn còn nghĩ bản thân
đang nằm mộng.
Giờ cơm
sáng đã qua, cháo đậu đỏ và bánh nướng thịt đều nguội lạnh, trong sảnh ăn thực
khách lưa thưa, ai ai cũng mang bộ dạng lười biếng. Đường Hành gọi một bát sữa
đậu nành nóng, xé cái bánh nướng thành từng miếng nhỏ, quệt vào sữa rồi ăn qua
loa.
Hắn hơi
hoài niệm gian nhà nhỏ của mình. Gian nhà nhỏ ấy nằm đối diện một con suối, mở
cửa ra là thấy suối, bên cạnh có cây cầu, một cái rào trúc vây quanh hai cây
liễu cổ to lớn. Căn nhà dưới gốc liễu không hề bắt mắt, nhưng đã là một tòa cổ
trạch trăm năm. Bờ tường sớm đã loang lổ, trụ hành lang toàn những phân chim.
Tấm tường ngăn lúc vào cửa đã sụp mất nửa, cỏ tranh mọc đầy rẫy trên nóc nhà,
toát lên một không khí thê lương tan nát. Nhưng bài trí trong phòng thì lại cực
kỳ xa hoa: thảm Ba Tư, đồ đạc bằng gỗ đàn hương, bình cổ chén vàng, chậu lan lọ
cắm cỏ, cái gì cần có thì đều có hết. Tất tần tật những thứ khiến bản thân cảm
thấy thoải mái mà một vị hoa hoa công tử có thể nghĩ ra đều ở đây hết rồi.
Ngoài ra, hắn còn có Mạch Hương, Mạch Tú, hai thư đồng giúp hắn quét tước, giặt
giũ, làm cơm. Bọn chúng sẽ không bao giờ để Đường Hành phải ăn cơm sáng không
nóng không lạnh.
Đường
Hành thích ngồi trong thư phòng của mình mà tận hưởng một ngày nhàn tản, nghe oanh
hót yến ca ngoài hành lang, ngắm hoa nở hoa rụng trong sân. Lúc giữa hè, trong
giếng cổ vườn sau có ngâm rượu lạnh, đấy là loại rượu nữ nhân thích uống, giang
hồ hán tử mà nhấp vào một ngụm liền lập tức phun ra ngoài, cười mắng là “nước
ngọt”. Hắn có chú ý tới mùi vị của rượu, lúc uống thì bỏ thêm vài quả ô mai,
mùi vị càng thêm độc đáo. Hắn có thể uống liên miên hết chén này tới chén khác
để quên đi cái nóng.
Hắn
không thích mùa hè, càng không thích ngày nắng.
Ngày
nắng mọi thứ quá rõ ràng, vạn vật hiển hiện từng li từng tí, chẳng có chỗ nào
để mà lẩn trốn. Hắn tự nhận mình là một kẻ bạc nhược, thích hợp với việc nâng
ly thanh tửu, ẩn mình ở một góc nào đó trong một ngày mưa gió sương, khói mịt
mù, bên song một mình đơn độc.
Hắn nhớ
hồi nhỏ, cứ tới đêm mưa mẫu thân thường thích ngồi trong cẩm thất, đối diện với
màn đêm vô cùng vô tận bên ngoài, đàn một khúc nhạc cực kỳ ưu thương. Vào lúc
ấy, phụ thân thì thích loay hoay với hoa cỏ ngoài sân. Tới lúc mệt sẽ đứng dưới
hiên nhà, im lặng lắng nghe tiếng đàn của mẫu thân. Lúc ấy, nếu mấy đứa con ở
phòng kế bên đang gây lộn, người sẽ đi vào khẽ “suỵt” một tiếng, bắt cả bọn yên
lặng.
Dưới ám
thị của phụ thân, nghe đàn trong mưa liền trở thành thời khắc thần thánh, thành
một truyền thống gia đình. Đường Hành lại cảm thấy trong khúc nhạc đó có sự ai
oán cứ đi thẳng vào tâm khảm, khiến người ta khó mà chịu được. Còn may là mùa
mưa ở đất Thục không dài, mà đại đa số thời gian mẫu thân đều quá bận, cho nên
hắn không đến mức lúc nào cũng phải chịu sự giày vò ấy. Chỉ có mỗi phụ thân là
thính giả trung thành của mẫu thân mà thôi. Người sẽ trước sau n
