Động Đình Hồ Ngoại Sử
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 3211021
Bình chọn: 8.00/10/1102 lượt.
vàng hương, rượu.
Họ đốt đuốc lên sáng rực, rồi chia nhau đứng làm hai hàng, ba thiếu nữ
thì hai mặc quần áo xanh, còn một mặc quần áo trắng. Trưng Nhị suýt kêu
thành tiếng, vì thiếu nữ mặc áo trắng tuổi 19, 20, đẹp tuyệt thế, Trưng
Nhị đã thấy vẻ đẹp của Chu Tường-Quy, Hoàng Thiều-Hoa, Nguyễn
Phương-Dung, ba người đẹp ngang nhau. Tường-Quy nhu mì, ủy mị, mềm mại
như phong lan, Phương-Dung sắc sảo tươi như hoa hải-đường, còng Hoàng
Thiều-Hoa thì vẻ đẹp trang nhã có sức hút người rất mạnh. Nay nàng thấy
vẻ đẹp của thiếu nữ này, thoang thoảng như bông hoa dưới nước, thấp
thoáng như người trong sương, vẻ đẹp như có như không, thực huyền ảo,
nhất là trong đêm xuân, dưới ánh đuốc, ánh trăng. Thiếu nữ đến trước
lăng, đốt hương lên rồi quì xuống, hai vai nàng rung động mãnh liệt,
dường như đang khóc.
Trưng Nhị cảm thấy kỳ lạ:
– Thiếu nữ trẻ đẹp này là ai ? Nếu là con cháu Trường-sa vương thì sao
không đường hoàng đến ban ngày tế lăng, mà phải đến ban đêm ? Bảo nàng
là Hàn Tú-Anh thì không đúng, vì bà là mẹ Quang-Vũ, năm nay Quang-Vũ
cũng gần 30 tuổi rồi, bà ít ra cũng phải 50 tuổi mới đúng. Còn thiếu nữ
này tuổi khoảng 20 là cùng. Vậy thì Trường-sa Định-vương chết, nàng còn
nhỏ lắm, chắc không phải Phi-tần của ông. Vậy nàng là ai ?
Thiếu nữ mở cái túi, lấy ra một cây đàn cầm. Nàng so phím vuốt tay trên
dây, tiếng đàn ai oán não nùng trong đêm tối, nàng cất tiếng ca, tiếng
nàng cao vút như muốn bay vào không gian. Sa-Giang biết đó là bài Sở-từ
của Khuất Nguyên tên Ly Tao.
Ly Tao, là một thiên Sở-từ của Khuất Nguyên, ông người thời Chiến-quốc,
thuộc tôn thất nước Sở. Ông trợ giúp Sở Hoài-Vương về nội trị, sau bị
gian thần dèm pha, không được dùng. Ông phẫn chí làm bài Ly Tao, tình
cảm nồng nàn, giọng văn thanh nhã. Bởi vậy sau này khi phê bình văn học, người ta thường ví với Ly Tao: nào tao nhã, thanh tao, rừng tao và tao
nhân mặc khách. Bài Sở-từ Ly Tao không được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, cho
đến nay chỉ còn bản phổ nhạc của Từ Thẩm, Vương Hoài và Lý Kế-Xuyên.
Trên đồi vắng, dưới ánh trăng, ánh đuốc chập chờn, tiếng đàn, tiếng ca,
bi ai, khiến cho người cứng rắn như Hồ Đề cũng cảm thấy bải hoải chân
tay.
Thiếu nữ ca hết bài Ly Tao, lại ca đến một bài trữ tình thê lương. Sa
Giang nhận ra đó là bài Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư-mã Tương-Như. Ba
người bị ru hồn vào tiếng đàn, tiếng hát, thì cả bốn Thần-ưng đều reo
lên trên không.
Thiếu nữ áo trắng dơ tay vẫy nhẹ nhẹ. Hai thiếu nữ áo xanh, cùng sáu
người cầm đuốc quì xuống. Nàng lướt tay trên phím đàn. Hai thiếu nữ áo
xanh cất tiếng ca một lượt:
Ao ao lộc ninh
Thực dã chi bình,
Ngã hữu gia tân.
Cổ cầm suy sinh,
Suy sinh cổ quảng
Thừa khương thi tương,
Nhân chi hiếu ngã,
Thị ngã chu hàng.
Hồ Đề ngơ ngác hỏi khẽ Sa-Giang:
– Bản nhạc này là bản gì, mà sao chị nghe quen quá?
Sa Giang ghé vào tai nàng nói:
– Đó là bài ca Lộc Minh trong Kinh thi để tiếc các bậc vua chúa thời xưa.
Hồ Đề nhớ ra hồi trước đây, mỗi khi tế vua An-Dương-Vương ở Tây-vu. Các nhạc công thường tấu bản này.
Kinh thi là một trong Ngũ-kinh: Thư, Thi, Dịch, Lễ và Xuân-Thu. Bốn bộ
đầu do Khổng Tử san định, tuyển chép lại. Bộ kinh Xuân-thu thì chính
ngài là tác giả. Ngũ kinh là sách căn bản giáo dục của Nho-gia. Kinh thi là bộ chép các bài ca dân dã cuối Tây-Chu (1066-770 trước Tây lịch 500
năm). Cương thổ nhà Chu bấy giờ gồm các tỉnh Thiểm-tây, Sơn-tây, Hà-nam, Hà-bắc, Sơn-đông và Hồ-bắc ngày nay. Vua nhà Chu cắt đất phong cho 800
chư hầu. Hàng năm nhà vua gửi quan đến các địa phương, ghi chép bài ca
dân gian về nghiên cứu. Cho rằng các bài ca đó, là phản ảnh đời sống dân chúng. Vua nhà Chu xét nội dung các bài Thi để quyết định thăng thưởng, trách phạt chư hầu. Đến đời Khổng Tử còn trên 3000 bài. Ngài tước bỏ
hết, còn lại 305 bài. Ngài chia ra: Quốc phong là bài ca dân gian của
từng nước một như Chu-Nam, Thiện-Nam, Tề-Phong, Trịnh-Phong v.v... Những bản nhạc như: Quan thư, Đào yêu, Yến yêu, Hùng Trĩ, Tĩnh Nhữ đã trình
bày ở các hồi trước, đều là những bài ca trong Quốc Phong. Bài Lộc minh
trên đây thuộc phần Tiểu nhã. Nhà nghiên cứu Chu-Hy đời Tống viết trong
bài tựa Kinh thi rằng: Tiểu nhã là những bài nhạc tấu trong bữa tiệc.
Còn đại nhã để tế các vị vua.
Lúc mà Trưng Nhị với Hồ Đề nấp ở lăng Trường-sa vương là năm 39 sau Tây
lịch. Các nhạc gia Trung-nguyên chưa sáng tác ra được nhiều bản mới,
quanh quẩn lại chỉ hát những khúc trong Kinh thi. Thảng hoặc có những
đại nhạc gia tài ba như Tống Ngọc, Tư-mã Tương-Như, Chiêu Quân sáng tác
mấy khúc còn lưu truyền. Tại Lĩnh Nam thì Trương Chi đỉnh lập ra hẳn một lối sáng tác. Khảo trong hơn 300 cuốn phổ về các danh nhân từ thời
Trưng Vương về trước, thấy nói đến các bản sau đây của Trương Chi: Động
Đình Ca kể lại mối tình ông với Mỵ Nương. Bản Phù Đổng Thiên Vương ca
tụng ngài đánh giặc Ân. Bản Lô hoa tình khúc nghĩa là khúc hát trữ tình
dưới bụi lau, ca tụng mối tình của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Còn ba bài
Xuân giang dạ vũ nghĩa là mưa trên sông mùa Xuân, Trung thu tý dạ ca bài hát giữa đê
