anh đang đi vắng. Anh vuốt ve khuôn mặt cô, như thể anh đang vuốt ve cô từ khoảng cách hàng trăm cây số.
Chương 2
ngày hai
1.
khoảng chín giờ sáng, một chiếc xe hơi màu trắng thanh nhã dừng lại ở bãi đỗ ven thành phố nước nóng (xe không có quyền vào thêm) và Klima bước từ trên xe xuống.
Đoạn giữa phố chính của khu điều dưỡng có một khu vườn công cộng trải dài, điểm xuyết nhiều bụi cây, bãi cỏ, những lối đi rải cát và ghế đá nhiều màu. Tứ phía là những ngôi nhà của trung tâm nước nóng, trong số đó có khu nhà ở Karl Marx, nơi nghệ sĩ kèn đêm trước đã trải qua hai giờ đồng hồ định mệnh trong căn phòng nhỏ của cô y tá Ruzena. Trước mặt nhà Karl Marx, ở phía bên kia khu vườn là toà nhà đẹp nhất của khu, toà nhà theo phong cách Nghệ thuật mới hồi đầu thế kỷ, phủ những hoạ tiết trang tri bằng đá hoa và ở lốivào nổi lên một bức đắp nổi. Chỉ mình nó có cái ưu tiên được giữ tên cũ không phải đổi: khách sạn Richmond.
– Ông Bertlef còn ở khách sạn không? – Klima hỏi người gác cổng, và khi anh ta trả lời là có, anh chạy lên, đi qua tấm thảm đỏ lên tầng một và gõ vào một cánh cửa.
Khi bước vào, anh nhìn thấy Bertlef trong bộ pyjama bước ra gặp anh. Anh xin lỗi vì cuộc đến thăm đường đột, nhưng Bertlef ngắt lời anh:
– Anh bạn! Đừng xin lỗi chứ! Anh đã cho tôi niềm vui lớn nhất có thể có dvào cái giờ sớm sủa này!
Ông siết chặt tay Klima và nói tiếp:
– Tại đất nước này người ta không tôn trọng buổi sáng. Họ tỉnh giấc rất đột ngột bằng cách đặt chuông báo thức, nó cắt ngang giấc ngủ của họ như một nhát chém và rồi sau đó thì cứ cuống cuồng lên. Anh có thể nói cho tôi một ngày bắt đầu bằng một hành động bạo lực như thế sẽ đi đến đâu? Điều gì sẽ xảy đến với những người có đồng hồ báo thức đều đặn hàng ngày giống như một cú điện giật như thế? Hàng ngày họ sẽ quen với bạo lực và hàng ngày họ sẽ chối bỏ niềm vui. Hãy tin tôi đi, buổi sáng nó quyết định tâm tính một con người đấy.
Bertlef nhẹ nhàng khoác vai Klima, dẫn anh đến ngồi vào một chiếc ghế bành và nói tiếp:
– Tôi yêu biết bao những giờ phút lười biếng buổi sáng mà tôi trải qua một cách chậm chạp như đi qua một cây cầu hai bên đầy tượng để từ đêm sang ngày, từ giấc ngủ sang cuộc sống thức tỉnh. Đó là khoảnh khắc trong ngày mà tôi thấy biết ơn làm sao một điều kỳ diệu nho nhỏ, một cuộc gặp bất ngờ sẽ thuyết phục được tôi rằng những giấc mơ của đêm vẫn còn tiếp tục và cuộc phiêu lưu của giấc ngủ và cuộc phiêu lưu của ngày về bản chất không hề bị tách biệt.
Nghệ sĩ kèn quan sát Bertlef đi từ phòng ngủ xuống trong bộ pyjama và đưa tay vuốt mái tóc muối tiêu, và anh nhận ra trong giọng nói âm vang mang âm sắc Mỹ không thể xóa đi được và trong vốn từ vựng được trộn vào điều gì đó cũ kỹ đến thích thú, rất dễ giải thích vì Bertlef chưa bao giờ sống tại đất nước tổ tiên của mình và ông nói được tiếng mẹ đẻ chỉ nhờ vào truyền thống gia đình ông.
– Và anh bạn ạ, không một ai – lúc này ông đang cúi xuống Klima với một nụ cười tin cậy – Không ai trong thành phố này có thể hiểu được tôi. Ngay cả các cô y tá, ngoài những cô thích chiều lòng người khác, còn thì ai cũng cảm thấy khó chịu khi được tôi mời đến chia sẻ những giây phút thoải mái của bữa sáng, thế cho nên tôi toàn phải lùi các cuộc hẹn xuống buổi tối, tức là vào cái giờ mà tôi đã hơi mệt mỏi rồi.
Rồi ông tiến lại bàn điện thoại và hỏi:
– Anh đến lúc nào?
– Sáng nay – Klima nói – Bằng xe hơi.
– Chắc anh đang đói – Bertlef nói và ông nhấc máy lên. Ông gọi hai suất ăn sáng “Bốn quả trứng luộc, pho mát, bơ, bánh sừng bò, sữa, jambon và trà”.
Trong lúc đó Klima nhìn quanh phòng. Một chiếc bàn tròn lớn, ghế, một ghế bành, một cái gương, hai đi văng, cánh cửa dẫn vào phòng tắm và một phòng bên cạnh, anh nhở ở đó có phòng ngủ nhỏ của Bertlef. Chính ở đây, trong căn hộ tráng lệ này, tất cả đã bắt đầu. Chính ở đây các nhạc công say sưa của dàn nhạc đã qua đêm, và ông nhà giàu người Mỹ đã mời vài cô y tá về để mua vui cho họ.
– Phải – Bertlef nói, bức tranh anh đang nhìn không có ở đây lần trước đâu.
Chỉ vào lúc này, nghệ sĩ kèn mới nhận ra một bức tranh vẽ một người đàn ông rậm râu, bao quanh đầu là một quầng sáng kỳ lạ màu xanh nhạt và cầm trong tay một chiếc bút lông và một bảng màu. Bức tranh có vẻ vụng về, nhưng nghệ sĩ kèn biết nhiều bức tranh trông bề ngoài vụng về lại chính là những tác phẩm nổi tiếng.
– Ai vẽ tranh này thế?
– Tôi – Bertlef trả lời.
– Tôi không biết là ông có vẽ tranh đâu nhé.
– Tôi rất thích vẽ.
– Thế đây là ai? – Nghệ sĩ kèn hỏi.
– Thánh Lazare.
– Cái gì? Thánh Lazare là hoạ sĩ à?
– Không phải Lazare của Kinh Thánh đâu, mà là thánh Lazare, một thầy tu sống vào thế kỷ IX ở Constantinople. Đó là vị thánh bảo trợ của tôi.
– Thế à! – Nghệ sĩ kèn thốt lên.
– Đó là một ông thánh rất lạ. không phải ông ấy tuẫn nạn vì không tin vào Chúa, mà là bị một số con chiên xấu tính giết chết vì tội yêu hội hoạ quá. Có lẽ anh cũng biết, vào thế kỷ thứ VIII và thứ IX nhánh Hy Lạp của Giáo Hội lên cơn sốt khắc kỷ cực đoan, không chút xót thương nào cho những niềm vui trần thế. Ngay những bức tranh
