Dung Phong…”.Giọng nói thảm thiết vọng đi trong nhà, Mộ
Dung Phong tuy cách một căn nhà vẫn lờ mờ nghe thấy, lập tức buộc miệng
gọi một tiếng: “Tĩnh Uyển”.
Ôn Trung Hy cũng không kiêng dè nữa, đẩy Tĩnh Uyển ra ngoài: “Doãn
tiểu thư tổng tư lệnh không ở đây”. Tĩnh Uyển vung tay tát một cái, đập
vào cằm anh ta, anh ta đâu dám tát lại, tay chỉ giữ chặt hơn: “Doãn tiểu thư chúng ta ra ngoài nói chuyện”. Bỗng nhiên có người từ sau hét lên
như sấm rền: “Buông cô ấy ra!”, tất cả cảnh vệ đều dừng tay, Ôn Trung Hy thấy Mộ Dung Phong đã ra ngoài cũng đành buông tay ra.
Tiếng mưa rào rào, giọng nói cô như mơ: “Bái Lâm, Bái Lâm là em, em
về rồi”. Giọng nói mơ hồ, trong đêm tĩnh lặng như vậy, đẹp đẽ rung động
khó nói thành lời. Mộ Dung Phong thấy cô tươi cười như hoa, trong lòng
đau đớn, cô chầm chậm đi đến gần anh, cẩn thận mở chiếc áo khoác trong
lòng ra: “Anh xem, em đem ai đến thăm anh này”. Ánh đèn hành lang chiếu
vào khuôn mặt bê bết máu của đứa trẻ, sự kinh ngạc không nói thành lời.
Anh không kìm được lùi lại một bước, cô lại bất ngờ đưa tay ra, trong
tay là khẩu súng nhỏ khảm ngọc, anh theo bản năng gào lên một tiếng, cô
đã ngược tay đặt lên ngực trái, “Pằng” một tiếng ấn cò súng.
Máu tươi bắn vào mặt anh, anh lao đến chỉ kịp ôm chặt lấy cô, cơ thể
cô mềm nhũn, máu nhanh chóng thấm đẫm áo anh, cả cơ thể anh ngây như
phỗng, chỉ ôm chặt lấy cô. Cô co giật, thở thoi thóp, khóe miệng run rẩy dữ dội, anh vội vả cúi đầu xuống, giọng cô còn nhẹ hơn tiếng mưa: “Mộ
Dung Phong… đứa bé năm nay bảy tuổi…con bé là…con bé là…”. Hơi thở thoi
thóp của cô giống như mũi dao sắc nhọn, đâm thẳng vào nơi sâu nhất của
trái tim anh, cả cơ thể anh đang run, cô lại đang mỉm cười, dùng toàn bộ sức lực cuối cùng: “Là của…”. Hơi thở nghẹn lại, đứt đoạn đầu hơi
nghiêng đi, không còn âm thanh gì nữa.
Máu men theo cánh tay chảy xuống từng giọt từng giọt, anh như ngây dại.
Tiếng mưa rả rích như gõ vào trong tim, khiến anh nhớ đến trước đây
rất lâu rất lâu, vào cuối xuân cả vườn là cánh hoa bay phất phơ, giống
như tuyết rơi, mẹ anh đã bệnh rất nghiêm trọng. Anh đi thăm bà hôm đó
tinh thần bà không tốt,dưới cửa sổ phía Nam vô số cánh hoa bay qua,ánh
mặt trời lặng lẽ, từng cánh từng cánh tình cờ bay vào cửa sổ. Trong
phòng chỉ sực mùi thuốc, chỉ thấy mẹ ho vài tiếng,lúc đó bà đã rất
gầy,những ngón tay khẳng khiu,bà dịu dàng hỏi anh vài chuyện. Anh học
được khúc nhạc từ mấy cảnh vệ, hát cho bà nghe. Bà tựa trên chiếc gối
lớn,cười nghe anh hát, đâu ngờ, đó là lần đầu tiên bà nghe anh hát, và
cũng là lần cuối cùng.
Đã nhiều năm như vậy, anh không còn hát cho người khác nghe nữa. Anh
nói: “Anh thật sự không biết hát”. Cô lại không chịu buông tha: “Em sắp
đi rồi ngay cả việc nhỏ như vậy anh cũng không đồng ý với em?”. Anh thấy cô tuy cười nhưng trong mắt vẫn là sự hoảng hốt bất lực. Cuối cùng anh
mềm lòng cười nói: “Em muốn anh hát thì anh sẽ hát”.
Lúc này tuyết càng ngày càng rơi nhiều, như rắc muối bay phất phơ,
gió trong núi mạnh, kèm theo bông tuyết đập vào hai người. Anh ôm chặt
cô dường như muốn dùng hơi ấm của mình để che chắn gió lạnh cho cô. Anh
hát nhỏ bên tay cô: “Ra khỏi Nghi Sơn có một con đường nhỏ, cây đào
trồng đối diện cây liễu. Chàng trồng cây đào nàng trồng cây liễu, cô gái nhỏ cây đào không nở hoa, cây liễu nở hoa”.Gió lạnh ù ù xọc thẳng vào
trong miệng, giọng anh kẹp trong gió: “Nước sông dâng nhấn chìm mỏm đá,
đứng trên đài cao trên đỉnh mỏm đá. Đứng trên đài cao trên đỉnh mỏm đá.
Đứng trên đài cao trông xa, cô gái nhỏ cô gái nhỏ sao nàng không đến…”.
Trong tiếng gió vô số bông tuyết đang rơi, giữa trời đất như dệt
thành một tấm rèm tuyết, giọng anh thấp dần, cứ thế ôm chặt lấy cô, mắt
cô ngân ngấn nước mắt: “Anh nhất định phải sớm phái người đến đón em…đến lúc đó em…”.
Chỉ là nói: “Em đợi anh đến đón em”.
Trong phòng không hề bật đèn, cửa khép hờ hành lang có một cây đèn
treo, ánh sáng vàng vọt xuyên qua từ khe cửa, rọi một quầng sáng màu
vàng nhàn nhạt lên chiếc ghế sôfa. Cẩn Chi từ ngoài vào mắt rất lâu mới
thích ứng được bóng tối trong phòng. Mưa ngoài cửa sổ đã tạnh từ lâu,
hơi nước ẩm ướt vẫn len qua cửa sổ tràn vào,đem theo cái lạnh đêm thu.
Ánh trăng trắng mờ xuyên qua khe cửa, lạnh lùng như bạc.
Trong bóng tối bóng cô như chiếc kéo, một lúc lâu sau mới mở miệng, giọng nói hơi khàn: “Sao rồi?”.
Hà Tự An nói: “Tổng tư lệnh vẫn không chịu”.
Cẩn Chi lại trầm mặt một lúc sau mới nói: “Tôi đi gặp anh ấy”.
Hà Tự An nói: “Theo Tự An thấy, phu nhân…lúc này không tiện…”.
Cẩn Chi nói: “Làm gì có hơi sức để anh ta làm bừa như thế, anh ta đã muôn gây chuyện, tôi sẽ cùng chơi với anh ta”.
Cô mặc một chiếc áo màu đen, cổ áo có cài một cái ghim đính kim
cương,dưới ánh đèn mờ đục,nó giống như một giọt nước mắt,mắt cô cũng lấp lánh trong bóng tối,Hà Tự An biết không ngăn được,đành nghiêng người
nhường đường,nói nhỏ: “Phu nhân, đừng tranh luận với tổng tư lệnh, hôm
nay ngài ấy mất tự chủ”.
Cẩn Chi không hề nói gì, người hầu đã giúp cô mở hai cánh cửa thông
vào trong, trong