thể suốt đời ngồi nghe chàng đàn.
Tiếng đàn vang lên, là
một khúc tôi chưa từng nghe, tôi gục đầu trên chiếc bàn tròn ba chân bên cạnh,
tay chống cằm hỏi: “Mộ Ngôn, huynh chưa lập gia thất chứ?”.
Khúc nhạc hơi ngừng,
chàng khẽ nghiêng đầu, ậm ừ một tiếng, “Chưa”.
Tôi nói: “Huynh có muốn
lấy một người đã chết làm vợ không?”.
Chàng dừng tay đàn, ánh
trăng mờ tỏ chiếu lên khuôn mặt thiên thần, đẹp đến sững sờ.
Tôi lấy hết can đảm nói
với chàng: “Cô gái đó cũng khá đẹp, tính tình cũng được, các vị trưởng bối đều
thích cô ấy, cưới về nhà tuyệt đối không có chuyện bất hòa mẹ chồng nàng dâu,
hơn nữa, cầm kỳ thi họa cũng biết ít nhiều, tuyệt đối không để huynh mất thể
diện trước thiên hạ. Ngoài ra, nấu ăn tuy không giỏi lắm nhưng cũng biết làm
vài món, chỉ có điều... chỉ có điều... đã chết...”.
Tôi tự khoe mình một hồi,
thầm nghĩ sao mình có thể mặt dày như vậy, càng tự khen càng thấy không ổn,
chàng chống cằm nhẫn nại ngồi nghe, một hồi lâu sau, dở khóc dở cười hỏi: “Cô
định nói tới âm hôn(*) sao?”.
Tôi không biết, giả sử
tôi và chàng thành hôn liệu có gọi là âm hôn, nhưng cũng không có định nghĩa
nào chính xác hơn, đành ậm ừ gật đầu.
Chàng nhẫn nại nhìn tôi
một lát, giơ tay đàn tiếp, lắc đầu nói: “Không hiểu cô nghĩ gì, không phải cô
định mai mối tôi cho một cô gái đã chết nào đó chứ?”.
Tôi sáng mắt nói: “Chính
là thế!”.
Dây tơ đàn phát ra thanh
âm run run, chàng cười: “Đúng là giống chuyện cô thường làm, nhưng Mộ gia chúng
tôi không thể tuyệt hậu, cảm ơn thịnh tình của cô”.
Tôi lại gục trên bàn,
nhắm mắt lại, gió đêm ấm áp là vậy, lại cảm thấy toàn thân lạnh toát. Mặc dù
rất hiểu sinh tử khác nhau, âm dương cách biệt, hôn nhân là không thể, nhưng
bất chợt có lúc không tránh khỏi hy vọng mong manh vào may mắn ngẫu nhiên nào
đó, muốn thử một lần, biết đâu sẽ khác, nhưng cuối cùng chỉ khiến mình càng
thêm thất vọng.
Tôi rất muốn nói với
chàng, cô gái đeo mặt nạ chàng đi theo để trả ơn chính là cô bé suýt bị rắn độc
cắn chết ở núi Nhạn Hồi năm xưa, bây giờ đã lớn thế này, luôn ước ao muốn lấy
chàng, trên trời dưới đất tìm chàng, tìm suốt ba năm. Nhưng sao có thể nói ra,
cô gái đeo mặt nạ này quả thực là đã chết.
Đêm đó tôi gục trên chiếc
bàn ba chân, ngủ thiếp từ lúc nào trong tiếng đàn của Mộ Ngôn. Nghe Quân Vỹ
nói, lúc canh tư, Mộ Ngôn bế tôi vào phòng. Nhưng khi tôi tỉnh dậy, chàng đã
rời đi. Giống như cái đêm ở núi Nhạn Hồi ba năm trước, chúng tôi luôn chia tay
trong lặng lẽ, bất ngờ. Nhưng cũng không có tình cảm đặc biệt gì, chỉ có nơi
đặt viên giao châu dường như trở nên trống rỗng.
Nơi tôi định đến là thành
Tứ Phương, quốc đô nước Trịnh.
Thoạt nghe tên đó, cứ
nghĩ thành này có lẽ được xây dựng theo nguyên lý hình học không gian tinh
thâm. Thực ra không phải tên thành là Tứ Phương, chỉ là do dân chúng trong
thành đa phần rất thích chơi mạt chược. Bầu đoàn ba thành viên, tôi, Quân Vỹ và
Tiểu Hoàng hân hoan nhằm thành Tứ Phương thẳng tiến, bởi vì Quân sư phụ cho
chim đưa thư báo, đã tìm được một vụ làm ăn cho tôi ở trong thành, khách lần
này nhân thân tương đối đặc biệt, là một quý phụ sống trong vương cung Trịnh
quốc.
Nội địa Trịnh quốc nhiều
sông nhiều núi, có nghĩa phần lớn hành trình chúng tôi đều đi bằng thuyền,
nhưng sự có mặt của Tiểu Hoàng khiến chúng tôi gặp rất nhiều rắc rối, ngày càng
ít chủ đò đồng ý chở chúng tôi, họa hoằn mới tìm được một chủ đò hám tiền,
nhưng thường đòi tiền công rất cao mới được bước lên con thuyền rách của họ.
Nghĩ đến chuyện không thể làm thịt Tiểu Hoàng nướng ăn như đối với con ngựa,
đành nghiến răng không còn cách nào khác.
Nhưng tiền mang theo mỗi
ngày cạn một nhanh, như thế này khó lòng đến được thành Tứ Phương theo dự kiến.
Vạn bất đắc dĩ, tôi và Quân Vỹ đành phải ép chủ đò: “Tiền không có, nhưng mạng
thì có, nếu ông không chở, chúng tôi sẽ thả con hổ, nó sẽ cắn ông chết tươi”.
Không ngờ biện pháp đó
lại rất hiệu quả. Chúng tôi đi hoàn toàn thuận lợi, chỉ có điều, lúc gần đến
thành có người báo quan, bị quan phủ địa phương phạt món tiền lớn, đó lại là
khoản tiền lộ phí cuối cùng của chúng tôi.
Lúc này còn cách thành Tứ
Phương năm mươi dặm, nhanh nhất cũng phải ba ngày mới tới, nhưng trong người
chúng tôi đã không còn một cắc bạc. Quân Vỹ nói trên đường đi vừa rồi anh ta đã
sáng tác xong một cuốn tiểu thuyết mới, nói về sự bạc tình đang rất ăn khách,
có lẽ sẽ bán chạy, có thể thử bán cuốn tiểu thuyết này lấy ít tiền lộ phí. Tôi
và Tiểu Hoàng đều rất vui, cảm thấy hết mưa là nắng, phấn khởi bày sách bên
đường rao bán, lòng đầy hy vọng.
Kết quả không bán được.
Về sau phân tích mới
thấy, nguyên nhân chính là trong sách không có những chỗ mô tả chuyện gối chăn.
Nhưng lúc đó chúng tôi chưa nhận ra điều ấy, chỉ thấy rất bế tắc. Suy nghĩ rất
lung, cảm thấy biện pháp duy nhất... chỉ có để Tiểu Hoàng biểu diễn tài ăn cỏ,
trái với bản tính của loài hổ.
Chính trong quá trình ép
Tiểu Hoàng biểu diễn tài ăn cỏ, chúng tôi gặp được Bách Lý Tấn lên núi hái
thuốc trở về, đây là nhân vật vô cùng quan tr
