The Soda Pop
Đức Phật Và Nàng

Đức Phật Và Nàng

Tác giả: Đang cập nhật

Thể loại: Truyện ngôn tình

Lượt xem: 3211301

Bình chọn: 9.00/10/1130 lượt.

nh với nguyên tác?

Nhưng theo tôi được biết thì đó không phải phong cách dịch thuật của chàng.

Rajiva nổi tiếng với cách dịch nghiêng về ý tứ hơn là chữ nghĩa kia mà.

-

Rajiva, chàng muốn ai sẽ là người đọc cuốn kinh này?

Tôi

trả lại bản dịch cho chàng:

-

Là những vị cao tăng từng được đào tạo một cách có hệ thống các giáo lý Phật

pháp, là các văn nhân, trí sĩ có trình độ giáo dục cao, hay là các cư sĩ tu tại

gia chỉ biết chút ít chữ nghĩa, hoặc thậm chí là quần chúng nhân dân phần

nhiều một chữ cũng không biết?

Chàng

giật mình kinh ngạc, cúi nhìn bản dịch trên tay, lật mở từng trang đọc lại một

cách gấp gáp, sau đó bỗng nhiên ngửa đầu cười vang: - Ta hiểu rồi!

Chàng

nắm chặt tay tôi, xúc động nói:

-

Ngải Tình, ở thời đại này hiếm có người mà tầm vóc trí tuệ và khả năng lĩnh hội

cao như nàng. Nhưng nếu ngay cả nàng đọc bản dịch này cũng không hiểu, thì thử

hỏi, bao nhiêu đệ tử nhà Phật có thể hiểu được?

Chàng

đặt cuốn tập lên bàn, chắp tay sau lưng, bước đi trong phòng, ngọn nến đung

đưa, chiếu rọi bóng chàng trầm ngâm, suy tư:

-

Ta dịch kinh là để cho ai đọc?

Chàng

đến bên cửa sổ, dõi nhìn những bóng thông cao vút dưới ánh trăng sáng vằng vặc:

-

Những bản dịch trước kia rất trúc trắc, khó hiểu, ảnh hưởng không nhỏ đến việc

truyền bá giáo lý Phật pháp ở Trung Nguyên. Nếu muốn phổ cập

rộng rãi những kinh văn này, không thể chỉ dựa vào giới quý tộc, hoàng thân

quốc thích mà phải coi trọng đối tượng quần chúng. Nhưng số người biết chữ

trong nhóm đối tượng này không nhiều, vậy phải làm sao để họ lĩnh hội được ý

nghĩa sâu xa, lớn lao của giáo lý Phật pháp? Chàng tiếp tục suy tư, tiếp tục

phân tích:

-

Ngải Tình, câu nói của nàng đã thức tỉnh ta. Trước khi đặt bút dịch thuật, cần

suy xét rất nhiều vấn đề. Kinh văn Phật pháp nhiều không kể xiết, rốt cuộc, ta

nên chọn dịch những cuốn nào? Khi bắt tay vào việc dịch thuật, ta nên chú trọng

đến cách diễn đạt hay đảm bảo sự trọn vẹn của nguyên tác

Chàng

ngẩng đầu, trầm ngâm. Tôi lẳng lặng đến bên chàng, lồng tay vào tay chàng, tựa

vai vào vai chàng. Lát sau, chàng cúi xuống nhìn tôi, mỉm cười rạng rỡ, mắt

sáng lấp lánh:

-

Ta quyết định tập trung chuyển dịch những bộ kinh điển của phái Không

tông - Đại Thừa. Tuy ta thông hiểu cả giáo lý Tiểu Thừa và Đại Thừa, nhưng lý

tưởng của ta nghiêng nhiều hơn về giáo lý Đại Thừa, vả lại giáo lý này cũng phù

hợp với đất Hán hơn. Vậy mà ở Trung Nguyên chưa từng có ai chuyển dịch kinh văn

của các vụ thủy tổ phái Không Tông là Long Thụ và Đề Bà. "Trung

luận", "Thập nhị môn luận" và "Bách luận" đều là những

tác phẩm chứa đựng tinh hoa của giáo lý Không tông. Ta sẽ lần lượt chuyển dịch

những cuốn kinh văn đó.

Tôi

gật đầu, tư liệu Phật giáo mà tôi đọc được viết rằng: vào khoảng thế kỷ thứ

hai, thứ ba sau Công nguyên, hai anh em Long Thụ và Đề Bà, người Ấn Độ đã chấp

bút viết "Trung luận", "Thập nhị môn luận" và "Bách

luận" (người đời thường gọi là "Tam luận") dựa trên tư tưởng của "Bát Nhã", sáng lập ra giáo phái Không tông, là giáo phái

Đại Thừa đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Trước Rajiva, đã từng có người

chuyển dịch các tác phẩm của Long Thụ và Đề Bà. Rajiva là người đầu tiên chuyển

dịch sang tiếng Hán một cách đầy đủ, trọn vẹn những văn quan trọng của hai vị

đại sư này. Cuốn "Tam luận" mà Rajiva chuyển dịch trở thành kinh văn

kinh điển của phải Tam luận tông. - Khi dịch có thể lược bỏ những phần phức

tạp, khó hiểu, không nên lệ thuộc hoàn toàn vào nguyên tác, chỉ cần biểu đạt

được ý nghĩa căn bản là được.

Chàng

quay lại nhìn tôi, mỉm cười và gật đầu, khuôn mặt thông tuệ của chàng trở nên

hân hoan, rạng rỡ:

- Dân thường khó mà lĩnh hội được những giáo lý uyên thâm của kinh văn Tam

luận, vì vậy ta sẽ dành thời gian để dịch cho họ những cuốn kinh văn dễ hiểu,

để chỉ cần nghe giảng một lần, là có thể nắm bắt được ý nghĩa của kinh văn đó.

Mọi chúng sinh đều nghe và đều hiểu được, thì Phật pháp mới có thể phát triển

rộng rãi.

Tôi

lấy làm cảm phục. Có lẽ chỉ có chàng mới thấu suốt chân lý này. Thế nên,

phương pháp dịch thuật kinh Phật của chàng nhấn mạnh dịch ý là chính, những đoạn uyên thâm khó hiểu, chàng đều lược bỏ hoặc rút ngắn lại. Chính

điều này đã khiến không ít học giả Phật học, thậm chí là các đệ tử của chàng

cũng hoài nghi rằng, vì chàng là người Khâu Tử, nên không tinh thông Hán văn,

không giỏi tiếng Hán một cách toàn diện, sâu sắc. Lẽ nào, do trình độ tiếng Hán

có hạn, nên chàng chỉ có thể dịch ý chứ không thể dịch toàn văn nguyên tác?

Những

kinh văn do Rajiva chuyển dịch, được lưu truyền rộng rãi nhất gồm: "Kinh

kim cương", "Kinh diệu pháp liên hoa", "Kinh Duy Ma Cật sở

thuyết". Không ít người từng chuyển dịch những cuốn kinh này.

Ví như "Kinh kim cương" có tới bảy bản dịch, trong đó có cả bản dịch

của Huyền Trang. Trình độ tiếng Hán của ngài Huyển Trang chắc chắn cao hơn

Rajiva, vậy tại sao, bản dịch của Rajiva lại có sức sống mãnh liệt hơn cả?

Người

đời sau bình xét về cuốn "Thực tưởng luận" mà chàng viết theo yêu cầu

của vua Diêu Hưn