n vợ anh thì
anh có để yên không? Lại nữa, tui không định đánh chết hắn, chẳng qua là cái đầu hắn mềm quá. Ông cảm thấy mình không có gì sai, tình lý đúng
cả. Bà con xung quanh có thể làm chứng. Những công nhân làm đường có thể làm chứng. Các vị có thể hỏi cái ông kỹ sư kia, chỉ cần ông ấy có lương tâm, ông ấy cũng có thể chứng minh, rằng các ông ấy chọc ghẹo vợ tui
trước, hạ nhục vợ tui, bấn quá tui mới dùng gậy đánh ông ấy. Dù rằng cảm thấy tình lý trong tay, nhưng hai chân ông vẫn nhũn ra, miệng vừa khô
vừa đắng, cái cảm giác đại họa sắp choán hết trong đầu ông, đuổi không
đi, khiến ông không còn khả năng tư duy phức tạp. Người xem rất đông,
lặng lẽ bỏ đi hết. Hàng quán hai bên đường vội vã dọn hàng, xem ra họ
muốn rời khỏi đây, càng sớm càng tốt. Dọc hai bên phố, mới giữa trưa mà
các cửa hiệu đều đóng cửa, lạii còn treo biển đang kiểm kê. Đường phố
bỗng trở nên rộng hơn rất nhiều. Gió heo may tràn về, thổi tróc cây bay
lá trên đường phố thênh thang. Vài con chó màu lông bẩn mắt, nấp trong
ngõ, sủa ran.
Ông đâm hoảng khi nhận ra rằng, gia đình ông hình
như đang ở giữa sân khấu, mọi người đang xem ông biểu diễn. Những ánh
mắt nhìn trộm qua kẽ hở của các cửa hiệu xung quanh qua ô cửa của các
nhà phố bên, và từ các xó xỉnh khác. Vợ ôm hai đứa nhỏ, run cầm cập
trong gió lạnh. Nàng nhìn ông bằng cặp mắt đáng thương, van xin ông hãy
thông cảm và tha thứ cho nàng. Hai đứa trẻ rúc đầu trong vạt áo mẹ như
hai con chim non quá khiếp hãi, bạ đâu rúc đấy. Trái tim ông như bị cứa
bằng lưỡi dao cùn, đau cùng cực. Mắt cay, sống mũi cay cay, một tình cảm bi tráng dâng lên, ông đá tên kỹ sư một cái, chửi: Mẹ mày, giả vờ chết
phải không? Ông ngẩng đầu lên, cao giọng nói với những cặp mắt lén lút
xung quanh:
- Chuyện hôm nay, bà con đã thấy hết. Nếu quan phủ
có hỏi, xin bà con hãy nói theo lẽ phải, tui xin lạy tạ – Ông chắp tay
vái bốn phía, nói tiếp – Tui đánh chết người, tội ai người nấy chịu,
quyết không để liên lụy đến bà con!
Hôm sau, ông vẫn mở quán từ
sáng sớm, lau chùi bàn ghế. Chú giúp việc Thạch Đầu, vẫn ra sức kéo bễ
quạt lò. Bốn ấm nước sôi sùng sục. Nhưng mặt trời đã gần trưa mà vẫn
không có khách. Đường phố trước cửa vắng tanh, không một bóng người,
từng cơn gió lạnh buốt cuốn lá bay đi. Vợ ông mỗi tay bế một đứa, bám
sau ông, không rời nửa bước. Cặp mắt to, trắng đen phân minh, thấp thỏm
không yên. Ông xoa đầu bọn trẻ, cười nhẹ nhõm: về buồng nghỉ đi, không
chuyện gì đâu, chúng tròng ghẹo con nhà lành, nếu phải chém thì chém đầu chúng!
Ông biết mình cố ra vẻ bình tĩnh, vì rằng ông thấy bàn
tay cầm giẻ lau của ông run lẩy bẩy. Sau đó, ông bắt vợ phải vào sân
trong, còn mình thì ngồi ngoài quán, tay vỗ bàn, cất tiếng hát một khúc
Miêu Xoang:
Ngóng quê nhà đường đi xa lắc, nhớ vợ hiền nương cậy vào ai. Như tui nay dữ lành chưa rõ, còn nàng ư, sống chết khôn lường.
Aùi chà chà, toàn thân tui ướt đẫm vì sợ, nhen lửa lòng nung nầu con tim…
Như người ta mở đập nước, khúc thứ nhất hát xong, lời ca mà cả đời tích
cóp, cuồn cuộn chảy theo. Ông càng hát càng ai oán, càng hát càng thê
thảm, lệ chảy từng dòng xuống cái cằm không râu.
Hôm ấy, tất cả người dân ở trấn Mã Tang lặng nghe tiếng hát của ông.
Một ngày dài dặc trôi đi trong tiếng hát. Mặt trời sắp lặn đỏ như máu, quét trên rừng liễu ven đê. Từng đàn chim sẻ đậu trên một ngọn cây liễu,
cùng cất tiếng kêu nháo nhác như mách bảo ông điều gì đó. Ông đóng cửa
quán, cầm cây gậy gỗ táo ngồi đợi trước cửa sổ. Ông chọc thủng giấy dán
cửa, nhìn ra ngoài quan sát động tĩnh. Chú giúp việc Thạch Đầu bên đến
cho ông một bát kê, ông ăn một miếng, nuốt không trôi. Ông bị sặc, hạt
kê vọt ra lỗ mũi như đạn ghém. Ông bảo Thạch Đầu:
- Này con, sư phụ gây đại họa, người Đức sớm muộn sẽ đến trả thù, nhân lúc bọn chúng chưa tới, con nên trốn đi!
- Sư phụ, con không đi, con đánh giúp sư phụ – Thạch Đầu lôi trong bọc cái giàn thun, nói – Con bắn rất trúng.
Ông không khuyên Thạch Đầu nữa. Cổ họng khê đặc, ông nói rất khó khăn. Ông
cảm thấy ngực đau không chịu nổi, y như hồi học nghệ bị ngã khi tập.
Chân tay ông vẫn còn run, trong bụng vẫn hát trầm một hồi ba cảnh của
một vở diễn.
Lúc vầng trăng lưỡi liềm treo trên ngọn cây liễu,
ông nghe thấy tiếng vó ngựa từ phía tây của con đường đá, phi tới. Ông
nhảy dựng lên, bàn tay nóng hổi nắm chặt cây gậy gỗ táo, chuẩn bị đối
phó. Ông trông thấy, dưới ánh trăng sao yếu ớt, một con la to lớn màu
đen, ngất ngưởng chạy tới, người cưỡi mặc đồ đen, đeo mạng đen, không rõ mặt.
Đến trước cửa quán, người ấy lăn khỏi mình con la, gõ cửa cộc cộc.
Ông nắm chắc cây gậy, nín thở, nấp sau cánh cửa.
Tiếng gõ không mạnh, nhưng bức bách.
Giọng khản đặc, ông hỏi:
- Ai?
- Tui!
Ông nhận ra ngay tiếng con gái, mở vội cửa, nàng Mi Nương màu đen lách vào, nói luôn:
- Cha, đừng nói gì nữa, chạy mau!
- Vì sao cha phải chạy? – Ông giận dữ nói – Chính chúng chọc ghẹo con nhà lành trước!
Con gái ngắt lời ông:
- Cha gây họa lớn rồi! Người Đức điện báo cho Bắc Kinh, Tế Nam. Viên Thế