ổi đã hai mươi, mà chưa dựng vợ. Hay đâu có bốn kiều nữ, làng Siêu-loại, văn hay chữ tốt, võ-công cao cường, đức hạnh khó bì, kiến thức uyên bác, đó là: Nguyễn-thị Trinh-Dung, Trần-thị Ngọc-Huệ, Nguyễn-ngọc-Nam, Vũ-thanh-Thảo. Trẫm phong cho cả bốn đều là quận-chúa, truyền gả:
Nguyễn Thị Trinh-Dung cho hoàng-tử Hoằng-Chân.
Lê Ngọc-Nam cho hoàng-tử Chiêu-Văn.
Vũ Thanh-Thảo cho định-viễn tướng-quân Nguyễn Căn.
Trần Thị Ngọc-Huệ cho chiêu-vũ hiệu-úy Bùi Hoàng-Quan.
Kể từ nay, vợ chồng ăn ở với nhau, một là tình, hai là nghĩa, cùng khuyến khích nhau làm tròn bổn phận trai anh hùng, nữ hào kiệt, sao cho xứng đáng là con cháu vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng.
Niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh,
cát nhật, mùa Xuân.
Khâm thử ».
Ghi chú,
(1) Mấy câu thơ này trích trong Kinh-thi, phần Quốc-phong, thiên Chu-Nam, bài Đào yêu (Cây đào xanh tươi), ý nói con gái đến tuổi thì gả chồng. Nguyên văn như sau:
Đào chi yêu yêu,
Chước chước kỳ hoa.
Chi tử vu qui,
Nghi kỳ thất gia
Đào chi yêu yêu,
Hữu phần kỳ thực.
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ gia thất.
Đào chi yêu yêu,
Kỳ diệp chăn chăn.
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ gia nhân.
Dịch:
Cây đào non mơn mởn,
Rực rỡ muôn hoa đào.
Thiếu nữ vui duyên mới.
Êm hòa đạo thất gia.
Cây đào non mơn mởn,
Quả núc níu đầy cành.
Cô kia vừa xuất các,
Cầm sắt vui duyên lành.
Cây đào non mơn mởn,
Lá óng mượt xanh tươi.
Cô kia về nhà mới,
Gia đình thêm đồng vui.
(Bản dịch của Kim-Y Phạm-lệ-Oanh).
(2) Trích trong bài Quan-thư (con chim thư kêu), thiên Chu-Nam, phần Quốc-phong, Kinh-thi. Nguyên văn:
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư phục.
Du tai du tai,
Chiển, chuyển phản tắc.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ,
Chung cổ lạc chi.
Dịch:
Bãi sông có đôi chim cưu,
« Quan quan» cất tiếng, thương yêu giao hòa.
Kìa ai yểu điệu mặn mà,
Sánh cùng quân tử mặn mà đẹp đôi.
Thấp tho rau hạnh,
Giữa lạch nước trong.
Ngọn rau nghiêng ngả theo giòng nước trôi,
Dịu dàng thục nữ như ai,
Để ta dằn dọc canh dài nhớ mong,
Cầu ai chẳng được như lòng,
Mối sầu dằng dặc giấc nồng khôn an!
Thấp tho rau hạnh,
Giữa lạch nước trong.
Hái rau phải lựa theo giòng nước trôi.
Được người thục nữ như ai,
Tiếng cầm, tiếng sắt hòa vui một nhà!
Được người thục nữ mặn mà,
Tiếng chuông, tiếng trống vui ca tưng bừng.
(Kim-Y Phạm Lệ-Oanh dịch)
Văn nhân Hoa-Việt từ thời Khổng-tử cho đến nay, thường trích dẫn tinh hoa của Kinh-thi trong khi làm văn trong những bài chế, chiếu, biểu, văn tế, đối trướng. Hai bài trên, được trích dẫn nhiều nhất trong các dịp hỉ. Hồi 1975 về trước, thuật giả có đôi chút tiếng tăm về bút pháp, nên thường dược nhờ viết câu đối, trướng hoặc văn tế. Những câu sau đây thường được coi là « tuyệt bút :
Chi tử vu qui
để mừng một cô gái vai dưới khi lấy chồng.
Nghi gia, nghi thất
Nghi kỳ gia nhân
để chúc cô gái đức hạnh đi lấy chồng.
Yểu điệu thục nữ
để tán tụng các cô xinh đẹp, hoặc mừng các hoa hậu, á hậu.
Cầm sắt hòa hợp,
để mừng đám cưới.
Độc giả muốn tìm hiểu những câu thơ tuyệt tác trong văn chương bình dân mấy nghìn năm trước của Trung-quốc, xin tìm đọc bộ « Thi kinh Quốc-phong » bản dịch của Kim-Y Phạm-lệ-Oanh, do Cành Nam, Arlington, Virginia, Hoa-kỳ xuất bản.
Lễ-quan hô:
- Vợ chồng hướng bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu lễ tạ.
Tám người cùng lễ.
- Vợ chồng hướng nhạc-gia lễ tạ.
Từng cặp hướng nhạc-gia lạy tám lạy.
- Phu thê giao bái.
Từng cặp vợ chồng hướng nhau lạy ba lạy.
Thế rồi các chàng rể đi bằng ngựa, đem xe chở nhạc gia, cô dâu thì lên kiệu; phía sau mỗi kiệu, còn có cả chục xe chở đồ sính lễ hướng về từ đường họ nhà vợ để làm lễ. Dân chúng thấy những cô gái làng mình, bỗng chốc thành mệnh phụ phu nhân, vương-phi, thì vinh dự biết mấy. Họ vỗ tay reo mừng.
Bấy giờ trong làng lại bàn tán xôn xao. Bà Đức than:
- Minh-Can là em của Ỷ-Lan phu nhân, mà lại không được vinh hiển thì kể cũng lạ. Thế mà mấy hôm trước, đi đâu ả cũng vênh cái mặt lên, tưởng mình sắp lấy hoàng-tử không bằng. Rõ chán.
- Tôi thì tôi biết rất rõ cô nàng. Tuy cùng cha mẹ sinh ra, nhưng cô ả này đành hanh, ác độc vô cùng.
Bà Hiếu ngắt lời bạn, rồi bà kể nể hết những chuyện xẩy ra trong thời thơ ấu của Ỷ-Lan cho mọi người nghe.
Chiều hôm ấy, Ỷ-Lan miễn mọi lễ nghi, hầu hạ cho cung nga, thái giám, để nàng cùng bố mẹ, các em ăn uống, trò chuyện thân mật. Đối với bà Thiết thì Ỷ-Lan là một con quái vật, một con quỷ đầu thai vào nhà bà. Còn Minh-Can thì là thiên-tiên giáng trần, đem phúc đến không những cho nhà bà, mà còn cho cả nhân gian. Còn ông Thiết, ông là người đọc sách, nên con nào ông cũng coi như con nào. Có điều thấy vợ quá ghét Ỷ-Lan, đôi khi ông bầy tỏ bất mãn, nhưng ngay lập tức ông gặp phản ứng kinh khủng của bà, nên ông đành nín nhịn cho ê
